"Khai mở nhận thức sâu thẳm và duy trì cảm xúc tình người thiêng liêng"

....

.

.
.

ABA Quotes

134 - Thế nào là ‘Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền’?



Quý vị phải chú ý coi chừng mình hiểu nhầm là đối cảnh thì vô tâm, cứ như vậy thì sẽ giống như gỗ đá, giống như con rô bốt thôi.

Ở đây phải hiểu người ta nói đến một phương pháp để giữ sự bình tâm trước sự việc xảy ra bằng việc dùng cái thấy, sự chú tâm của mình để quan sát mà không được xúc cảm, không được suy luận, không được thành kiến, không được đánh giá, không được tính toán. Giữ tâm bình lặng, quan sát trong trạng thái đó sẽ phát sinh ra những trí tuệ phù hợp với cái thấy phù hợp.

Nếu để xúc cảm phát sinh thì chúng ta chỉ có thể thấy được một chiều hay hai chiều. Ngược lại, nếu không có xúc cảm hay đánh giá thì cái thấy sẽ đa chiều và khi cần xử lí việc gì thì từ cái thấy đa chiều đó phóng ra những giải pháp mà chúng ta không hề định sẵn. Cho nên, dù có học những gì mang tính chất kiến thức cũng không giúp được gì nhiều cho chúng ta.

Quý vị phải coi chừng mình đang hiểu nhầm đối cảnh thì vô tâm. Ví dụ như khi thấy con mình bị một cậu bé khác đi xe đạp tông phải, chẳng lẽ đối cảnh như vậy mình lại vô tâm ?! Quý vị phải hiểu ý nghĩa của nó như thế này : là mình phải hết sức bình tĩnh, không quá hoảng hốt, khoan hãy đổ lỗi cho ai mà quan sát vấn đề. Khi ấy sẽ biết việc cần phải giải quyết là đỡ đứa bé lên hay không đỡ, lật nó qua hay không lật… tức là hành động như thế nào cho chính xác, đúng với hoàn cảnh và luật pháp thì phải căn cứ trên sự bình tĩnh. Bình tĩnh là trong tâm mình khoan vội xuất hiện những vấn đề khác, chỉ chú ý quan sát sự việc đang diễn ra như thế nào, từ sự bình tĩnh ấy sẽ có cách xử lí phù hợp. Sau khi xử lí xong xuôi hết rồi mới nói tới chuyện phải trái, đúng sai. Cái gì làm trước, cái gì làm sau sẽ diễn ra rất thứ tự chứ không phải thấy cậu bé tông con mình té, con mình đang nằm chảy máu dưới đường, mình lại đi tìm cậu bé kia mà chửi nó : “Mày đi mất dạy, lỗi tại mày !” - Chuyện đó tính sau.

Cho nên với trạng thái tĩnh lặng, tập trung chú ý và quan sát như vậy, trong đầu sẽ cho cách giải quyết theo thứ tự việc nào trước việc nào sau trong trạng thái ổn định, tĩnh lặng nhất và trạng thái tránh những xúc cảm tiêu cực. Chỉ có xúc cảm tích cực vì đau 
lòng, cần được giải quyết.

Trích Master Duy Tuệ - Ánh Sáng Kỳ Diệu và Bóng Tối Điên Đảo - 26.4.2011

133 - Hãy suy tư về điều này!


Tạo hoá đã sản sinh ra vô vàn vật thể,
Một con bướm, một cái hoa, một con người,
Rất cân đối và hài hoà.
Mọi thứ mà con người học được là từ tạo hoá.
Các nhà bác học cũng là những người có được tri thức từ tạo hoá.

Tạo hoá hình như rất thông minh, rất lo-gic, rất hoàn chỉnh,
Tạo hoá làm ra trùng trùng điêp điệp vật thể hữu hình và vô hình,
Nhưng dường như chẳng có gì thừa hay thiếu.
Nhưng đến lượt con người nhìn vào,
Thì thấy thừa và thiếu ngay!
Giỏi và uyên thâm như tạo hoá,
Nhưng con người không thể nói tạo hoá là nhà bác học hay khoa học được.

Tâm của các vị Phật cũng vậy,
Cũng giống tạo hoá, hay như tâm của tạo hoá.
Tâm Phật cũng mầu nhiệm và huyền bí như tạo hoá vậy.
Con người cũng không thể luận bàn hay phong tước gì cho TÂM PHẬT được.

Điều lý thú là,
Chính mỗi con người đều có tâm này!
Hãy suy tư về điều này.

Trích Master Duy Tuệ - Tâm Phật (Thuyết giảng cho Phật Tử Norway - Madison, 10/7/2004)

130 - Mở Tầm Nhìn Cho Người 'Sợ Chết'


"Khi một người bị bệnh hay người già hay người đang sống bình thường… thì đều sợ chết cả. Khi nói, khi bàn và nghĩ tới cái chết thì ai cũng rất sợ. Vậy quý vị giải quyết làm sao? Giúp họ mở tầm nhìn như thế nào? Đây là vấn đề cần đi sâu vào bên trong. 

Con người bất sinh bất diệt và con người sinh diệt

Quý vị đã đọc nhiều bài viết cũng như đã nghe nhiều bài giảng của thầy.

Quý vị hãy chỉ cho họ biết thế này:

Trong con người của họ có hai con người, một con người có sinh, có diệt, có sống, có chết và một con người bất tử. Vấn đề này chưa phải là sâu nhưng khi quý vị truyền giảng đến nó thì cũng đã rất sâu. Quý vị chỉ cần giảng một cách rất đơn giản là: “Trong con người họ có hai con người, một con người bất tử và một con người có sinh có tử”.

Con người bất sinh bất diệt

Con người bất tử là con người như thế nào? Ví dụ, quý vị đói bụng thì biết đói bụng và cần ăn cơm. Hay biết đi qua phải, qua trái, giữ đúng luật, biết chuyện này, chuyện kia… Như vậy, con người chỉ có biết không thôi chính là con người bất tử. Khi đau thì biết đau, sắp chết thì biết sắp chết, đau chỗ nào thì biết mình đau ở đó, đang thương, đang giận ai đó thi biết đang thương, đang giận hay đang buồn thì biết đang buồn về chuyện gì, đang lo lắng thì biết đang lo lắng chuyện gì… Con người chỉ có biết không thôi là con người thật của mỗi người và con người ấy bất tử, không chết.

Con người sinh diệt

Con người có cảm xúc lo, buồn, sợ, bệnh hoạn… là con người có sinh, có diệt. Như vậy, nếu có chết thì con người có sinh, có diệt chết. Chết tức là cảm xúc, nỗi buồn, niềm vui, thân xác sẽ chết. Thân xác được sinh ra rồi vận hành, bệnh hoạn, trục trặc, thông đạt rồi cuối cùng bắt buộc phải chết, không có cách nào khác. Nhưng bên cạnh cái chết ấy, có một con người không bao giờ chết và đó chính là con người thật. Do đó, cùng lắm có chết là chết suy nghĩ, lo sợ, niềm vui, nỗi buồn, thân tứ đại chứ chắc chắn không bao giờ sự biết có thể chết. Và sự biết cũng chính là con người thật của tất cả mọi người.

Biết được như vậy thì đừng bám vào con người sinh diệt nữa. Nếu lỡ con người sinh diệt chết đi thì thôi vì vẫn còn con người bất tử. Nếu con người sinh diệt còn mạnh khoẻ, giữ được lành mạnh thì thưởng thức thêm. Lỡ không giữ con người sinh diệt lành mạnh được nữa thì tuy cái xác chết đi nhưng con người thật vẫn ở đó. Ở bất cứ chỗ nào, trời nào, cõi nào cũng có con người thật ở đó và nó không ở trong một không gian, khu vực địa lí, khoảng thời gian cụ thể nào. Con người Biết tồn tại không bị ảnh hưởng bởi thời gian, không gian và không hề có tuổi."

Trích Master Duy Tuệ - Nói cho Hg có sứ mệnh - 23.7.2009

127 - Số Đời Một Hơi Thở


Đức Phật Trần Nhân Tông từng nói : 

Số đời một hơi thở
Lòng người hai biển bạc
Cung ma chật hẹp lắm
Nước Phật khôn xiết xuân 

(Đây là lời nói của một vị vua. chúng ta hết sức lưu ý điều này) 

“Đời người một hơi thở”

Con người thường nói “trút hơi thở cuối cùng” là gì? Khi người chết là hơi thở trút ra mà không thở vào được, thế là chết. Đức Phật đã chọn quán hơi thở làm một trong những phương pháp điều tâm để đạt thánh trí. Nhưng đa số độc giả đọc đến bài kinh tứ niệm xứ thường không quan tâm đặc biệt về giá trị  thực tiễn của bài kinh mà hay phóng tâm đi tìm những chuyện phức tạp, rắc rối và có vẻ ”mật không phổ biến” mới thoả mãn tâm lý của mình. Chúng ta thường bị tâm trí đánh lừa, tâm trí thường dẫn dắt con người ra khỏi thực tại để dấn thân vào mơ mộng. Kỹ thuật kiểm soát hơi thở chính là phường pháp rất  hữu hiệu giúp ta ở trong tình trạng của thực tại. Thực tại là vắng bóng của tâm trí, thực tại sẽ phát huy sự mầu nhiệm của tâm để đời sống tâm linh của chúng ta làm chủ tâm trí và lúc ấy chúng ta sẽ được hạnh phúc. Nhờ vào phương pháp kiểm soát hơi thở mà thánh trí phát sinh mới nhận ra được “đời người một hơi thở”. 

Cuộc đời chúng ta thật quý giá nhưng luôn bị đe doạ giống như một người đang giữ một vật quí báu nhất trần gian  thì mạng sống luôn bị đe doạ từ nhiều phía vậy. Con người thật sự quý giá vô cùng, không vật gì, thứ gì  quý giá hơn nhưng lại bị đe doạ trầm trọng bằng một hơi thở! Đừng tin tưởng rằng thở ra, thở vào là quyền của chúng ta. Chúng ta thật sự không có quyền đó. Luật vô thường mới có quyền đó. Nhưng chúng ta lại không thể mua chuộc hay nịnh bợ  hoặc thoả thuận gì được với luật vô thường. Do vậy con người phải thức tỉnh được điều này mà dừng bớt lại bao nhiêu tham vọng , bao nhiêu ý đồ, bao nhiêu mưu lược để hơn thua nhau, để chiếm đoạt nhau, để nhận chìm nhau, tiêu diệt nhau. 

Do vậy đừng tin tưởng vào quyền năng của lý trí, của ý muốn mà hãy quay về thực tại và ý thức về luật vô thường, thiết kế lại đời sống của mình trong tình trạng chúng ta không thoả thuận gì được với luật vô thường. Phải biết rằng “đời người một hơi thở”, đức Phật hoàng Trần Nhân Tông đã sống với ý thức ấy trong cuộc đời của mình. 

“Lòng người hai biển bạc”

Nếu thánh trí phát sinh ta dễ thấy được “lòng người hai biển bạc”. Lòng người ở đây là tâm của con người. Tâm vốn thênh thang không bị giới hạn, không bị cột chặt vào bất cứ thứ gì. Tuy thế tâm con người lại thường bị lệ thuộc vào hai cảnh giới mộng ảo đó là lòng tham về danh và lòng tham về lợi. Hai lòng tham này cũng vô bờ bến tạo ra hai thế trận chôn chặt thân tâm con người. Tâm không ngã vào lợi thì cũng ngã vào danh, hai thế trận này đã trở thành tâm thường xuyên của con người! Và con người khó vượt ra hai biển tham danh, tham lợi quá. Từ gọng kiềm của hai biển tham danh, tham lợi này mà phát sinh ra vô lượng tâm trí để phục vụ cho hai biển tham này. 

Ở đây chúng ta cũng có thể thêm vào một biển nữa là biển tình ái. Biển tình ái cũng mênh mông và chôn chặt con người không ít, có nhiều khi cả đời người. Khi về già thì  biển  tham danh, tham lợi có thể cạn nhưng chưa chắc biển ái tình đã cạn. Trong lúc còn sức khoẻ thì biển ái tình này thường pha lẫn vào hai biển tham danh, tham lợi, nhưng khi càng về già, nhất là sự già nua của tứ đại thì biển tình ái dần tách ra hai biển kia và chi phối con người về mặt tâm lý nên trong thực tế cuộc sống cũng không ít người già bị biển ái tình hành hạ làm khổ đời mình và làm khổ nhiều người khác, làm khổ lây cho xã hội. 

Do vậy, con người phải thường xuyên tỉnh táo, nhận biết tác hại của các biển tham danh, tham lợi, tham ái tình để tâm chúng ta trở lại cõi tự do mênh mông của nó - cõi niết bàn. Ở cõi tự do ấy có sự khoái lạc đặc biệt mà sự khoái lạc của sự thoả mãn danh, lợi, ái tình không thể sánh được. Mà thực ra có ai thoã mãn được với ba biển tham lam ấy đâu. Lòng tham là vô đáy thì làm gì có chuyện thoã mãn. 

Các biển tham ấy đã tạo ra địa ngục, tạo ra cung ma cai quản  đời người nên đức Phật Trần Nhân Tông đã nêu lên trong bài kinh “Cung ma cai quản chặt”. Con người phải biết tỉnh táo và nhận biết về cung ma nơi chính tâm mình. Tâm mình đã trở thành cung ma thì cảnh vật xung quanh cũng là thế giới ảo của ma vì cảnh bên ngoài là ảnh của tâm vậy. Hằng ngày hằng giờ chúng ta phải thường kiểm điểm xem tâm mình có đang là cung ma của chính mình hay không? Khi con người nhận biết được tình trạng ấy thì cung ma dần dần sẽ tan biến để trả lại cho tâm của chúng ta tính linh nguyên thuỷ của nó. 

Lời kinh ghi: “Cõi Phật khôn xiết xuân” 

Thế nào là cõi Phật? Ở đây một thực tế đầy hấp dẫn nhưng ít ai thưởng thức được. Thực tế đó là trạng thái tâm vô nhiễm của chính chúng ta. Tâm không nhiễm phàm cũng không nhiễm thánh. Thực tế ấy có sẵn ở mọi người. Nếu chúng ta nhận biết được điều này thì hạnh phúc hiện tiền. 

Những ai đã từng yêu, từng sống với tình yêu nam nữ và thực hiện các nghĩa vụ trách nhiệm trong tình yêu ấy đều thừa nhận rằng tình yêu có đẹp đến đâu, có tuyệt vời đến đâu rồi cũng không bằng giá trị của tự do. Trong trạng thái tự do thực sự cao quý hơn nhiều so với tình yêu nhưng tại sao con người lại ít ca ngợi tự do như ca ngợi tình yêu vậy ? Quả thực con người có được bao nhiêu người sống với tâm trạng tự do. Chỉ có vài bậc thánh thôi ư? Không phải vậy đâu. Khi con người đã có kinh nghiệm ngự trị trong trạng thái tự do thì suối nguồn tình yêu chân chính sẽ tuôn chảy mãi không ngừng. Tình yêu của trạng thái tâm tự do là tình yêu tràn đầy, tình yêu được ban cho chứ không phải tình yêu để được thứ gì đó. Vậy khi con người muốn hưởng được cực lạc của tình yêu siêu việt thì phải tỉnh táo, nhận ra được trạng thái tự do của tâm Phật chúng ta. 

Lời kinh nói “Cõi Phật khôn xiết xuân” nghĩa là ở đó chỉ có tình yêu vô điều kiện, thứ tình yêu ban cho mà không bao giờ hết, ban cho không điều kiện, không nhu cầu nhận lại điều chi. Đức Jêsu, đức Phật Thích Ca đã sống như vậy, đức Phật Trần Nhân Tông cũng đã sống như vậy cho hết trọn đời mình.  Mùa xuân là mùa sinh sôi nẩy nở của thế giới, là mùa thảnh thơi của con  người . Nếu chúng ta đừng để các lòng tham ái khống chế tâm thì tâm lập tức là “Cõi Phật khôn xiết xuân”.

 Trích Master Duy Tuệ - Số Đời Một Hơi Thở

125 - Nguyên nhân đáng nói của Khổ Đau là do bộ óc và con tim của con người gây ra


"Nguyên nhân đáng nói là do bộ óc và con tim của con người gây ra Đây là nguyên nhân thầy gọi là con người tự làm khổ mình và khổ người..." 


1. Hàng vạn lần tiếp xúc với thanh niên và người già

 Thầy thấy ai ai cũng than thở khổ đau.

2. Khổ đau buồn chán vì tình yêu đôi lứa  
Khổ đau buồn chán vì báo hiếu không tròn  
Vì con cái không nghe lời cha mẹ  
Vì con cái lười biếng học hành hay làm việc  
Vì vợ chồng không tôn trọng lẫn nhau  
Vì vợ hay chồng phản bội hay ngoại tình  
Vì vợ chồng không lắng nghe lẫn nhau  
Vì vợ hay chồng làm theo ý riêng của mình gây khổ cho người kia  
Vì anh em bất hoà 
Vì bà con ruột thịt đang còn khó khăn  
Vì bà con lười biếng ỷ lại vào người ở nước ngoài  
Vì bạn bè chơi xấu nhau  
Vì người thân cờ bạc  
Vì con dâu hay chàng rể chuyện nọ, chuyện kia  
Vì bị người khác lừa gạt  
Vì thương người mà bị hại  
Vì bị bệnh nan-y  
Vì những bệnh khó chữa lành  
Vì có người thân bị tai nạn hoặc chết  
Vì chưa có được người vợ hay người chồng lúc tuổi còn xuân...

 3. Khổ đau vì chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai, hoả hoạn
Vân vân và vân vân.

4. Thầy cố gắng đem hết khả năng thanh tịnh của mình để giúp họ một chút nào đó  
Mỗi đêm thầy cầu nguyện cho các đệ tử, cho bá tính bình an! Nước mắt thầy cứ tràn trề về nỗi khổ của con người  
Thầy cố tìm ra nguyên nhân dễ thấy...  

5. Và tự hỏi: Liệu có được bao nhiêu người trên thế gian này không khổ?  
Tại sao con người thường sống trong cảm giác khổ đau?  
Liệu có cách giải quyết khổ đau cho con người?  

6. Thầy nhận thấy con người thường dựa vào tôn giáo hay niềm tin thiêng liêng cho đỡ khổ  
Nhưng thầy quan sát và thấy rằng  
Chẳng những các tín đồ của các tôn giáo cứ khổ đau mãi  
Mà ngay những người truyền giáo cũng lắm nhiều phiền muộn.  

7. Càng đi sâu vào mỗi cá nhân, càng khám phá sự khổ đau của riêng họ  
Khổ đau quả là một sự thật  
Khổ đau không chừa một ai  
Khổ đau đến với cả người tốt lẫn người xấu  
Khổ đau đến với cả tuổi thơ! 
 
8. Cuộc đời vốn đã khổ đau như vậy  
Mà con người cứ mãi gây khổ đau cho nhau  
Chưa bao giờ chịu dừng lại.  

9. Nguyên nhân đầu tiên của khổ đau  
Chính là vì thế giới có sự sống là thế giới của khổ đau  
Nguyên nhân này chúng ta phải chấp nhận
Giống như ta chấp nhận một cơn bão khổ đau trút đến cho loài người
Giống như ta chấp nhận mùa đông giá rét phải đến
Thế giới này là vậy  
Chỉ khi nào ta chết đi thì nỗi khổ sẽ không còn.  

10. Nguyên nhân nữa thuộc về những rủi ro ngoài tầm kiểm soát của con người  
Như thiên tai, dịch bệnh, thời tiết môi trường gây bệnh hoạn Nguyên nhân này chúng ta cũng phải mặc nhiên chấp nhận.

11. Nguyên nhân đáng nói là do bộ óc và con tim của con người gây ra
Đây là nguyên nhân thầy gọi là con người tự làm khổ mình và khổ người  
Thầy muốn nói nhiều về nguyên nhân này  
Bởi vì đây là nguyên nhân khá phổ biến và ngày càng tăng không giảm.
Bộ óc con người đã gây khổ đau như thế nào?

Nó phát sinh ra lắm sự thèm khát, ham muốn và nhu cầu chưa bao giờ biết đủ  
Nó sinh ra lắm ý nghĩ và ý tưởng cho chính nó và cho người khác Nó tưởng tượng ra đủ điều để nó thoả mãn những ý tưởng và ý nghĩ của nó  
Nó luôn tin tưởng và chấp vào ý nghĩ của nó.  
Nó lại thiếu ý chí để mở ra nhiều hiểu biết cần thiết cho sự tồn tại tạm thời của cuộc sống  
Nó cũng thiếu ý chí siêng năng làm việc cho đúng nghĩa một con người có lòng tự trọng  
Nó cứ muốn dùng mánh khoé hay những thủ đoạn để đạt quyền, đạt lợi khi có thể  
Nó lắm điều trí trá và biết che đậy những điều xấu xa ấy bằng những hình thức mỹ miều  
Nó có muôn vàn lý do biện minh cho những hành động để thoả mãn ham muốn của mình  
Nó khôn khéo luôn kết tội người khác, còn nó là vô tội.

Cách vận hành của bộ óc như vậy
 
Đã gây ra bao nhiêu khổ đau cho chính mình và cho người  
Gây ra ly tán, chết chóc, máu đổ đầu rơi  
Gây ra ức chế tinh thần cho kẻ khác  
Gây ra bao cảnh tan thương trong gia đình  
Gây ra từ trường độc ác cho xã hội loài người  
Nó gây ra sự chia rẽ hận thù và khó chịu  
Nó phá huỷ hạnh phúc mà con người dày công vun đắp.

Hãy thức tỉnh với thói quen xấu của bộ óc của mình và của người
Đừng tin tưởng nó.

Còn con tim thì sao? 
Con tim sản sinh ra lắm cảm xúc  
Cảm xúc đam mê êm dịu nhẹ nhàng  
Cảm xúc giận hờn gắt gỏng  
Cảm xúc yêu thương chôn vùi ý thức  
Cảm xúc "phê" trong cơn nghiện ma tuý  
Cảm xúc bay bổng của một loại thiền để tránh chạm mặt thực tế cuộc đời  
Cảm xúc đê mê trong cuồng phong ân ái  
Cảm xúc lâng lâng trong cơn say  
Cảm xúc hân hoan chạy theo điều mong đợi  
Khi cảm xúc nổi lên thì tỉnh thức không còn  
Trí thông minh ứng xử không hiển lộ  
Sống theo cảm tính  
Cảm xúc lôi kéo thân thể chạy theo nó  
Gây bao tổn thương khó lường  
Tự đánh mất mình  
Khi tỉnh dậy  
Mọi việc đã quá muộn màng!  
Hãy thức tỉnh với cảm xúc  
Nó dễ đưa ta đến bên bờ khổ đau khó ra được  
Đừng để cho cảm xúc đánh lừa.
 
12. Các con nên thường quán về con đường xấu của bộ óc và con tim
Để cho những hiểu biết cần thiết được khai mở  
Để cho các cảm xúc không lôi kéo được ta  
Như vậy cũng giảm được nhiều cảm xúc khổ đau do chính con người gây ra.
 

Trích Khổ Đau - Master Duy Tuệ - Ngày 06/11/2006

124 - Ánh Sáng Diệu Kỳ và Bóng Tối Điên Đảo



Từ vấn đề sách vở và sự tưởng tượng

Hôm qua tôi đến cửa hàng của vợ chồng Hg Duy Hiển Trí Phật & Ái Tuệ, tình cờ tôi nhìn thấy một quyển sách trên bàn mà hồi xua Ái Tuệ mua ở đâu về, cuốn sách cho những người  bước đầu học Phật. Tôi mới lấy và xem thử trong đó họ nói cái gì.

Tôi xem mục lục xem mấy cái hình chụp phía trước, rồi tôi mới tự hỏi thế này : Không biết những sách vở ngày xưa đúng sai tới cỡ nào, cũng không biết có ủy ban khoa học nào thẩm định chưa mà bao nhiêu tiền của của bá tánh dồn lại lập viện này, viện khác, rồi nuôi hàng trăn ngàn cái chùa, hàng trăm cái viện nghiên cứu? Người viết, người giảng cứ nghĩ mình thông đạt, còn người nghe thì không hiểu gì!

Tôi tự đặt câu hỏi không biết trong này có gì thật sự giá trị không hay tất cả những giá trị trong này chỉ toàn là sự tưởng tưởng và không có liên quan gì đến đời sống ? Giống như mình nói chuyện trên sao Hỏa vậy! Mà có nói chuyện trên sao Hỏa thì các nhà khoa học cũng phải tốn hàng triệu đô la để lên đó nghiên cứu, thu thập tài liệu, tìm ra các dấu vết xem có vàng bạc, hay có khả năng sống hay không để đưa con người lên ở. Không lẽ người ta bỏ ra hàng tỷ đô la để nghiên cứu về một chuyện thần tiên do một cuốn sách đâu đâu đề cập tới mà không có bất cứ bằng chứng gì hay sao?

Qua đó tôi mới thấy tội nghiệp, rất tội nghiệp cho những người tin vào đó và bỏ tiền, bỏ bạc ra phụng sự mà không hề biết là nó có giá trị gì hay không?

Tôi đọc tiếp vào phần mục lục và tôi thấy toàn là sự tưởng tượng ở trong đó. Họ đặt ra hết khái niệm này đến khái niệm kia rồi tưởng tượng. Quý vị cũng đã thấy rõ rồi, ở trong tôn giáo thì tưởng tượng rất thành công còn trong chính trị xã hội thì tưởng tượng một thời gian, cuối cũng thất bại hết, không còn ai theo nữa. Anh không thể xây dựng một cái gì đó do mình tưởng tượng ra rồi bắt mọi người đổ tiền, đổ bạc, đổ công sức ra xây dựng được. Anh nói rằng cái đó dứt khoát phù hợp mà không có cái gì chứng minh được cả ! Rồi bảo bây giờ hi sinh đời này cho sự tưởng tượng ấy, rồi tiếp tục hi sinh đời nữa cho sự tưởng tưởng ấy. Mà đâu phải ai cũng hi sinh – toàn người ngu với người yếu thế hi sinh thôi. Còn người quản lí công trình khái niệm tưởng tượng đó thì ăn uống đầy đủ, dư thừa và được nhiều người kính trọng.

Nghĩ lại tôi rất là đau buồn, đau buồn lắm ! Các loại sách vở đó nên đốt hết đi là vừa. Nguy hiểm quá, nó còn tạo ra sự cố chấp, cực đoan kinh khủng. Bởi vì sự tưởng tượng làm cho đầu óc những người đi theo và nghiên cứu con đường này cực kì cực đoan, họ sẵn sàng chết cho sự tưởng tượng ấy. Tôi thấy thân phận con người thật là tội nghiệp, không bao giờ dám nhìn thẳng vào sự thật để cải thiện sự thật sao cho nó phục vụ đời sống của mình, giữa mình và sự thật ấy thống nhất với nhau?

Người ta rất dễ sai khiến và lấy tiền của những người say mê tưởng tượng chứ có ai lấy được tiền của các nhà khoa học. Không có ai dụ dỗ được các nhà khoa học hay có đầu óc khoa học một chút. Vì vậy, những người sống theo thuyết tưởng tượng sẵn sàng tìm mọi cách ám sát hết những nhà khoa học hay có đầu óc khoa học. Hoặc họ vận động quần chúng ngu muội lên án và chống lại những người có đầu óc cải tổ - chuyện này trong tôn giáo rất mạnh và xảy ra thường xuyên. Cho nên loài người còn có rất nhiều người phải nói là đáng thương thật chứ không phải bình thường đâu,  rất là đáng thương!




Tới Phần Sáng và Phần Tối trong đầu óc

Trong đầu óc con người có phần tối và phần sáng, phần tối rất mạnh và phần sáng cũng rất mạnh. Bình thường thì phần sáng cũng đã sáng ở một mức độ để mình đủ sống nhưng nếu mình không có ý thức phát triển phần sáng cho nhiều thì nó sẽ bị phần tối (u mê) dẫn dắt nhiều hơn.

Khi quý vị học phương pháp mà tôi đang hướng dẫn, chúng ta nghiên cứu toàn bộ phần sáng và tác động của phần tối trong đầu óc để tách cuộc sống của chúng ta ra khỏi dòng thác do phần tối lôi cuốn vì đời sống tinh thần của chúng ta quyết định hết tất cả.

Phần Tối

Quý vị thấy phần tối hay nghĩ tới, hay dắt mình tới những hành động rất tham lam, cụ thể thì cụ thể nhưng cụ thể mang tính tham lam, còn sống thì theo tinh thần tưởng tượng, cực đoan. Phần tối có hai phần: phần cực đoan chạy theo đời sống tưởng tượng, sẵn sàng chết cho tưởng tượng và phần ngược lại là bị lôi cuốn vào một thực tế tham lam quá đáng. Ví dụ, phần tối dẫn dắt anh đến sự tưởng tượng là có giải thoát, có một thiên đàng ngoài cuộc đời này, có một kiếp sau tốt đẹp hơn bây giờ và anh khuyến khích mọi người nên thấy giống như anh thấy. Anh rất cực đoan, ai nói đụng tới chuyện này thì anh chửi anh chống, anh xúi giục người khác chống đối. Cực đoan ghê lắm!

Phần tối này còn có đường đi khác, nó lôi cuốn anh vào một hoạt động tham lam không còn biết đến liêm sỉ và xấu hổ. Một mặt, anh mặc quần, mặc áo, anh làm hình thức, anh dẫn người ta đi tìm chân lí. Nhưng mặt khác, anh đi kiếm đất đai, anh vận động xây cho anh chỗ này chỗ kia để anh tu hành. Tôi nghĩ rằng những nhà tu hành hiện nay có đất đai nhiều lắm, tôi biết một ông Thượng tọa khá nổi tiếng trong nước, sơ sơ thôi cũng có 7 cái sổ đỏ. Anh dụ quần chúng đi theo một lí tưởng ở kiếp sau, một thế giới nằm ngoài hành tinh này. Đồng thời, anh đi kiếm sổ đỏ, ai dám đụng tới sổ đỏ này là anh sẵn sàng chết sống.

Đó chính là cách thức mà phần tối dẫn dắt con người : sống cực đoan theo một cái nhìn tưởng tượng và rất tham lam không còn biết xấu hổ là gì, không còn biết nhân cách là gì. Một người sống bằng đầu óc như vậy thì không thể nào nói là anh có niềm vui, có hạnh phúc được. Chắc chắn không bao giờ có được nhưng lúc nào anh cũng thể hiện ra là anh có hạnh phúc, anh có lí tưởng anh là người giải thoát. Anh đi tìm con đường giải thoát để anh tới bờ bên kia mà anh tối ngày cứ chạy đi tìm sổ đỏ !?  Bây giờ mà truy lùng hết thì tôi không biết là có bao nhiêu sư, bao nhiêu ni cô là có sổ đỏ ? Anh đi tu mà anh kiếm sổ đỏ để làm gì ? Anh đi tìm đường giải thoát để anh qua bến bờ bên kia thì anh kiếm sổ đỏ để làm gì ? Cho nên, quý vị hiền giả Minh triết đi học Minh triết để tìm con đường giải phóng đời sống tinh thần của mình làm sao cho tinh thần tự do với sự tưởng tượng, với sự tham lam không còn biết xấu hổ là gì. Chứ không phải học cho đầu óc tự do mênh mông để rồi chúng ta lại lao vào chộp giật!

Phần Sáng

Phần sáng không cho phép người nào theo con đường mở phần sáng chạy theo con đường chộp giật nhưng cho phép anh đủ sống, đủ xài và cho phép anh không phải quan tâm đến chuyện tiền bạc. Nó luôn luôn dẫn anh tới việc duy trì và củng cố ánh sáng thì tự việc ấy có phép nhiệm màu cho anh tồn tại về mặt vật chất. Anh dùng phần tối để tính toán cũng chỉ khổ thân anh thôi. Còn phần sáng không cho phép anh tính toán, nó cung cấp cho anh đủ sống hoài, anh không cần phải tính.

Khi nói tới bến bờ cũng là để chỉ Phần Sáng tronng đầu óc chúng ta.

Tất cả hiền giả Minh triết mới và cũ phải kiên quyết phát triển phần sáng, không đi theo lối mòn của nhân loại, không lấy sự giàu có làm thước đo thành bại cuộc đời mình. Người ta có tiền nhiều, có viết sách ca ngợi sự giàu sang phú quý thì cũng kệ người ta. Nó không khác gì con cá đẹp đang bơi trong cái chậu mà quý vị nhốt trong nhà để nhìn ngắm. Tiếng cười của những người đang bị phần tối điều hành khác với tiếng cười của những người do phần sáng điều hành đời sống của họ. Nên quý vị hết sức tránh không để phần tối hoạt động trong đầu óc.

 Khi nói đến bến bờ, tôi tạm mượn từ bến bờ trong Phật giáo, vì chúng ta bị ảnh hưởng nhiều trong Phật giáo, để chỉ phần sáng trong đầu óc của chúng ta. Quý vị hãy tự kiểm điểm trong đầu óc của mình xem mình có đang thèm miếng đất, cái nhà hay cái gì đó mà nhất là đất và nhà. Mình cho là nếu không mua được miếng đất thì coi như cuộc đời mình thất bại. Mình nằm chiêm bao thấy đất hoài, trúng đất hoài vì mình mơ ước kiếm miếng đất. Chúng ta phải kiểm soát hết tất cả các tình huống thèm muốn trong đấu óc. Sự thèm muốn nào lâu lâu hiện ra thì phải hiểu là phần đó bị phần tối chen vào. Một trong những hiện tượng phần tối chen vào là lâu lâu trong đầu chúng ta nghĩ tới cái gì đó, thấy thèm thuồng nó và muốn có nó. Đó là dấu hiệu của phần tối xen vào.


Cách thức gầy dựng

Chúng ta vừa trao đổi với nhau về hai yếu tố.

Yếu tố thứ nhất, lòng tự nguyện cống hiến khả năng của mình về tinh thần lẫn vật chất, tóm lại là cống hiến năng lực hay kết quả làm việc học tập cho xã hội, tức là mình là con người của xã hội, là con người chung của nhân loại, của dân tộc, cộng với lòng trung thực là nền tảng lập nghiệp, là tài sản chân chính nhất mà ai cũng có.

Nếu tài sản này trời chưa ban thì chúng ta hãy trồng hạt giống này vào mảnh vườn thánh thiện của chúng ta, tức là chúng gieo ý tưởng, ý niệm vào và trồng nó, giống như Hg Duy Chính Niệm đã từng viết lại trong nhật kí vậy. Dĩ nhiên trong mảnh vườn thánh thiện ấy đã bao gồm lòng thương và lòng trắc ẩn với nhân loại. Nếu chưa có thì chúng ta tập.

Tuy nhiên có rất nhiều người tập chỉ để đạt mục tiêu, khi đạt được rồi thì quên hết không còn nhớ nữa. Lúc gian khổ, có thể nói anh là người gương mẫu hi sinh, sau khi hoàn cảnh đất nước khác đi, cuối cùng anh cũng thay đổi, anh cũng đi kiếm chác : kiếm cơm, kiếm nhà cử, kiếm bồ bịch. Khi được đòi hỏi bước sang một sự hi sinh khác, anh không còn khả năng hi sinh nữa, anh bảo thôi tới đây được rồi, anh bắt đầu đi chiếm hữu – Rất nhiều người như vậy! Sự thay đổi của lòng người đầy rẫy ra như vậy đó, quý vị cũng biết hết cả rồi! Nhưng hiền giả Minh Triết thì ráng duy trì mãi mãi, không cho phép sự thay đổi này xảy ra.

Yếu tố thứ hai, lúc nào chúng ta cũng phải tin rằng chúng ta là người tốt, là người có ích cho người khác. Sự tin tưởng tuyệt đối này giúp cho chúng ta tự tin trong tất cả các mối quan hệ của mình.


Và đây là cũng hai yếu tố cơ bản của của người đặt được tinh thần gọi là tinh thần đã đến bến bờ.

Tập cho

Nói tới đời sống của người đã đến bến bờ tức là nói tới đời sống tinh thần hay trạng thái tinh thần chứ không phải nói đến điều kiện vật chất, tuổi tác, hoàn cảnh, không gian thời gian.

Chúng ta phải chú ý phân biệt, có nhiều tình huống đầu óc sung mãn, đầu óc bình an như người sống ở nông thôn, miền núi thậm chí một số người sống ở thành thị có đầu óc rất tốt, họ không có gì phải suy tư, lo lắng hay buồn phiền. Tuy nhiên, đầu óc tốt đó hoàn toàn không mang tính chất đầu óc tốt thứ thiệt của người có tinh thần đến bến bờ.

Đến bến bờ, tức là đến đây anh không cần phải lo cho phần riêng của anh nữa mà anh lo tới phần cho, phần giúp thiên hạ. Anh phải thông minh, khỏe mạnh, sung mãn trong đầu óc và thực hiện hành động cho. Nếu anh không thực hiện hành động cho thì tự anh tố cáo anh là đồ dỏm. Tất cả hiền giả Minh Triết phải tập cho, đối với các cháu nhỏ tôi còn hướng dẫn các cháu tập cho, thì người lớn càng phải tập cho mạnh hơn nữa. Kiếm được thứ gì cho được thì cứ cho, cho mà không nói phước đức, phước báu gì hết ! Chuyện cho để có phước báu là chuyện dụ dỗ của mất ông tuy sĩ thuộc loại thấp kém. 

Cho không phải là sự trao đổi để anh lấy lại bằng vật chất hay tinh thần một cách cụ thể nào đó. Cho là cho thôi chứ không nói chuyện lấy. Khi mới vào học để khuyến khích anh thì tôi bảo muốn có nhiều thì cho nhiều, còn dĩ nhiên cho nhiều thì có nhiều. Đến khi quý vị khá rồi, học lên cao thì tôi không nói chuyện có nhiều, được gì nữa mà anh phải tập cho : cho nụ cười, cho sự dễ chịu, cho lời nói ngọt ngào minh bạch, cho mối quan hệ rõ ràng, cho mược tiền bạc khi cần thiết, cho luôn khi cần thiết, giúp đỡ người này người kia hết sức hồn nhiên, không cần ai xin, ai hỏi. Giai đoạn này anh đã nhận thức được đầy đủ rồi thì bắt đầu cho, anh tập cho như vậy anh sẽ thấy là cho hoài không hết, và quả đúng thật là như vậy.

Anh còn ngồi nghĩ chuyện lấy vào tức là vùng tối của mình đang hoạt động như một con ma đói, tuy nó là con ma đói nhưng nó không đói thật, nó dư nhưng nó vẫn thấy thiếu, vẫn thấy cần thêm.

Chúng ta phải hành động để tập cho đầu óc đi vào trạng thái mà ở đó suối nguồn tuôn chảy ra để cho và không dùng đầu óc kinh nghiệm tính toán mình làm cái này hay cái kia là hợp lí. Nếu tính toán và cho là hợp lí thì nghĩ cho cùng chẳng có cái gì hợp lí hay không hợp lí. Khi bỏ sự cân nhắc qua một bên, chúng ta mới thấy sự mầu nhiệm của cuộc sống : nó sinh ra, vận hành và mất đi. Nó vận hành trong một cái lực và luật mầu nhiệm nằm ngoài sự tính toán của con người.   


Trích Master Duy Tuệ - Ánh Sáng Kỳ Diệu & Bóng Tối Điên Đảo - 26.4.2011 


Xem thêm bài: Hãy Sống Như Là Người Đã Đến Bến Bờ [1] và Hãy Sống Như Là Người Đã Đến Bến Bờ [2]

123 - Tuổi Trẻ và Kinh Doanh [03] - Khởi nghiệp bằng chính Phần Sáng trong con người



Hôm trước tôi đã trao đổi với quý vị về hai nền tảng căn bản quyết định hết cho đời sống vật chất, mà là đời sống vật chất có hạnh phúc. Có vị nào nhớ, nhắc lại được hay không?

-  Con Duy Giác thưa thầy, thứ nhất là nếu con không lầm thì mình phải có một nghề nghiệp ổn định, vững chắc. Thứ hai là từ nghề nghiệp đó mình phát triển tình thương cho cộng đồng, trong đầu không nghĩ đến việc làm giàu...

-  Cái đó căn bản nhưng chưa phải là nền tảng. Tôi đang nói về cái nền tảng và bản chất. Trên nền tảng và bản chất ấy các kiến thức nghề nghiệp, khả năng chuyên môn hay là cơ hội làm ăn sẽ hình thành. 

- Dạ, đó là lòng trung thực và sự tự tin của mình trong khi giao tiếp.

- Tự tin cái gì?

- Tự tin là mình mang ánh sáng và niềm vui cho người khác.

- Có vị nào tóm tắt và nói rõ thêm trên cơ sở phát biểu của Duy Giác ko? 

-  Con Duy Nhã xin phát biểu.

-  Vâng, mời Duy Nhã.

-  Dạ, con xin tóm tắt đó là lòng tự tin cộng thêm tính trung thực và tình thương.
 
Có vị hỏi tôi, bây giờ mình khởi nghiệp bằng cái gì thì tôi trả lời bằng cái đó. Vị khác lại hỏi tôi là làm sao tự tin trong công việc khi mình giao tiếp với người khác. Nhờ hai câu hỏi đó mà tôi trả lời hai vấn đề: 


1- Khởi nghiệp bằng cách nào? 


2. Làm sao mình tự tin trong khi mình giao tiếp với người khác khi làm ăn buôn bán?

Quý vị đặt những câu hỏi đó rất hay, mặc dù quý vị hỏi chưa trực tiếp chưa gọn nhưng cuối cùng gút lại được vấn đề ngắn gọn như vậy. Quý vị nên đặt ra nhiều câu hỏi vì nếu không có câu hỏi thì pháp không ra, trí tuệ không ra. Không ai nghĩ mà nói ra bao giờ.

Bây giờ quý vị khởi nghiệp bằng cái gì? Cái này mang tính công thức, không phải hiểu sơ sơ và bỏ qua được đâu. Nó quyết định luôn đời sống vật chất cho quý vị. Nhất là những vị ở trong nước, nhất là những người nằm trong môi trường văn hóa châu Á. 

Đi kèm với lòng trung thực còn có một yếu tố nữa. Không chỉ ở châu Á đâu mà có thể thấy ở tất cả các trường đại học nổi tiếng ở Mỹ, khi họ tuyển sinh viên cũng căn cứ vào cái đó chứ không chỉ căn cứ vào điểm học. Điểm học đạt 98% hay thậm chí đạt 100% nhưng họ còn căn cứ thêm một bản chất nữa ngoài cái lòng trung thành, trung thực thì người ta mới đào tạo anh. Quý vị không thấy nữa thì không còn gì để nói, mà chỗ này cực kì quan trọng, là nền tảng của mọi thứ. 

-   Alô, con là Duy Minh.

-  Vâng, chào Duy Minh.

-  Thưa thầy, theo con thấy đó là lòng tự trọng và sự tự tin cá nhân.

-  Ừ, cảm ơn Duy Minh, nhưng còn thiếu.

-   A lô, con chào thầy ạ, con là Tuệ Kiến Phật ạ !

-  Vâng.

-  Theo con thấy đó là lòng đam mê và quyết tâm.

- Ừ, đam mê cũng là một thứ được nhưng chưa thật đúng chỗ đó.

-  A lô, con là Duy Năng Pháp con xin bổ sung ạ !

- Vâng.

- Thứ nhất là sự trung thực, thứ hai là làm việc với tinh thần vì người khác, không tính toán so đo, không ham muốn không nghĩ tới quyền lợi riêng thì sẽ chiêu cảm sự may mắn cho mình. 

-  Cái đó đúng hoàn toàn. Cái tính chất tự nguyện, cái tinh thần tự nguyện của mình.

Khởi nghiệp bằng chính Phần Sáng trong con người hay Tấm lòng thành thật và sự Đam Mê trong việc tự nguyện đem công sức của mình Phụng Sự cho xã hội.


Quý vị thấy đó, ví dụ như đại học Havard thì họ cũng tuyển người trên tiêu chuẩn đó, chắc chắn không ai tuyển người chỉ có học giỏi không đâu quý vị. Anh học giỏi, anh đủ tiền vào trường nhưng anh phải đóng tiền học. Nhưng tôi cấp cho anh học bổng toàn phần để tôi đào tạo anh mà anh không cần lo tới tiền ăn, tiền học hàng tháng thì anh phải có tiêu chuẩn là tấm lòng thành thật của anh và sự đam mê trong việc tự nguyện đem công sức của mình phụng sự cho xã hội. Đó là yếu tố thứ nhất, gồm hai phần như vậy.

Không có trường đại học nổi tiếng nào mà cho học bổng toàn phần mà không chú ý vào yếu tố này, còn anh đủ điểm vào trường tôi thì tôi cho anh vào nhưng cấp học bổng cho anh thì tôi không cấp. Cấp học bổng tức là tôi nuôi anh, tôi đào tạo anh. Tôi nuôi anh nếu anh không còn cá nhân anh thì tôi nuôi. Nếu anh còn là cá nhân mà anh còn là người của nhân loại của xã hội, của cộng đồng thì tôi mới bỏ tiền ra nuôi anh hàng trăm ngàn đô la một năm. Chứ anh học giỏi thì cơn cớ gì tôi nuôi anh ? Anh học giỏi thì kệ anh, tôi mừng cho anh thôi. Anh cứ vào đây đóng tiền học trường của tôi còn bảo tôi nuôi anh thì dứt khoát tôi không nuôi bởi vì anh không phải là con người của xã hội, của nhân loại. Anh chỉ là con người của cá nhân anh, của vợ anh, của gia đình anh. Anh học ở đây xong anh về sẽ kiếm được việc làm tốt, sẽ vinh quanh, sẽ nuôi vợ nuôi con nuôi gia đình anh thì anh cứ bỏ tiền ra mà học. Anh không có tiền, nếu anh đủ điều kiện vay thì tôi cho anh vay, sau khi ra trường anh đi làm anh trả. Còn tôi cấp học bổng cho anh thì khác, tức là anh học học học và phụng sự, khỏi cần lo chuyện khác.

Đây là một bản chất người ta nghiên cứu và phát hiện qua hồ sơ. Anh không thể đóng kịch được! Anh không thể nói tôi thế này tôi thế kia, tôi có tinh thần là được! Người ta nghiên cứu anh hết và kết luận anh là con người của nhân loại chứ không phải là người tối ngày đi kiếm sổ đỏ, vận động xây chùa, nói chuyện thánh thần. 

Quý vị thấy đó, phần sáng trong con người quyết định tất cả mọi hạnh phúc của chúng ta. Quý vị vào công ty Minh Triết làm cũng vậy, yếu tố này là yếu tố quyết định để tuyển vào công ty Minh Triết, và yếu tố thứ hai là làm sao phát triển được sự tự tin nhất là trong các quan hệ làm ăn với đối tác của anh. 

Làm sao phát triển được sự tự tin nhất là trong các quan hệ làm ăn với đối tác?

Cảm ơn quý vị đã phát biểu phần một. Quý vị hãy nhớ yếu tố phần một là yếu tố tiêu chuẩn khi chúng ta đào tạo một hiền giả Minh Triết. Nếu trời chưa ban cho chúng ta yếu tố này thì với phương pháp học Minh Triết, chúng ta có đủ khả năng sáng tạo hai thiên chức này trong đầu óc. Chúng ta chính là đấng sáng tạo. Những cái thiên tánh, thánh tánh hay siêu phàm tánh mà trời đất chưa ban cho chúng ta thì với con đường mà tôi đang hướng dẫn chúng ta có đủ khả năng tự sáng tạo, tự trồng vào đầu óc, tự gầy vào mảnh đất và nuôi nó phát triển. 

Có vị nào phát biểu chia sẻ được yếu tố thứ hai này do Tuệ Tịnh Thanh đặt câu hỏi với Hg Duy Trung Ý không?  

-  Con Duy giác xin phát biểu.

-  Vâng.

-  Dạ thưa thầy đó là đời sống tâm linh vững chắc. 

-  Cảm ơn Duy Giác. Mời quý vị khác bổ sung.

-   Dạ, con là Duy Năng Pháp.

-   Vâng, mời Duy Năng Pháp.

-   Con xin bổ sung thêm là đời sống tâm linh trong sáng ạ.

-   Vâng, cảm ơn Duy Năng Pháp. Nó đúng nhưng chỉ là khái niệm chung. Còn bữa đó tôi trả lời rất chi tiết, nói rất là cụ thể! Mà các trường đại học khi cho học bổng toàn phần cũng tính tới điểm này.

-  Alô, con là Duy Đức Tịnh. 

- Vâng.

-  Con xin nhắc lại bài Thầy giảng hôm sáng thứ bảy vừa rồi cho các bạn sinh viên nên lưu ý đời sống tâm linh của mình, trong đó Thầy nói rất rõ đời sống tâm linh không phải chuyện về tôn giáo mà nói tới những cảm xúc mạnh mẽ, lành mạnh từ chuyện mình có tinh thần rất trong sáng. Đi tới đâu, gặp hoàn cảnh nào mình cũng chấp nhận được, nhờ hoàn cảnh mà tự mình rèn luyện và qua đó phát triển đời sống tâm linh và cảm xúc tại hoàn cảnh đấy. Như vậy dù ở đâu mình cũng có thể sáng tạo giá trị của mình ngay tại hoàn cảnh đó ạ. 


Hôm nay con có đọc một bài viết trên báo Vietnamnet, có một cô gái được học bổng tại đại học Havard, khi được hỏi tại sao cô ấy chọn học trường này và những đam mê của cô ấy là gì thì cô khẳng định luôn là cô sẽ về quê hương của cô ấy là Việt Nam để làm việc bởi vì bố cô ấy luôn nói với cô ấy rằng: điều quan trọng nhất khi đi học nước ngoài là phục vụ cho đất nước vì ở Mỹ có nhiều người giỏi rồi. Cô ấy sẽ về để đóng góp cho quê hương của mình. Con xin hết thầy ạ.

- Cảm ơn Duy Đức Tịnh. Cô bé đó trả lời hay đó. Chứ nói tôi học xong tôi kiếm chồng ở nước Mỹ, tôi phục vụ cho nước Mỹ thì chắc người ta không cho học bổng rồi. Quý vị thấy đó, những cơ quan trí tuệ lớn trên thế giới, họ không suy nghĩ theo kiểu lơm cơm, đừng nghĩ nói nịnh người ta là người ta cho đâu! Tôi học xong tôi ở lại trường Havard, tôi học xong tôi có tài tôi phục vụ cho nước Mỹ - nói vậy không phải là người ta chịu đâu! 

Quý vị vẫn chưa nói được một chi tiết mà tôi đã chia sẻ hai ba lần rồi. Qua đó, quý vị thấy đó, tất cả những gì tôi chia sẻ, những ngôn ngữ tôi dùng,  quý vị không thể nghe và hiểu một cách hời hợt. Đúng ra phải có một ban chuyên gia, nghiên cứu và giải mã hết tất cả những lời tôi giảng vì tôi nói rất tóm tắt, tôi nói những điểm tổng thể chung chung. Nhưng tôi cũng đi vào rất chi tiết, thì những chi tiết đó cũng phải được giải mã ra chứ không thể nào không giải mã được. 

Do vậy, tôi nói quý vị phải ra một bộ sách và chỉ cần cầm bộ sách đó đọc tới đọc lui, tập đi giảng chỗ này chỗ kia mà không cần sách của một thế giới nào hết. Một quyển sách thuần túy của VN. Từ đó quý vị mới hiểu dần, hiểu dần các bí mật trong ngôn ngữ hay trong các câu chữ tôi dùng, trong nộ dung tôi giảng. Mới nhìn sơ qua tưởng là dễ hiểu chứ sự thiệt là rất sâu sắc.

Từ lâu rồi tôi đã có ý thức có một số anh em khá, nếu không thì thế hệ sau sẽ nghiên cứu và giải mã ra vì đa số tôi sử dụng phương pháp ám chỉ. Kể cả những người sống bên cạnh tôi, tôi cũng cư xử bằng các ám chỉ chứ không cư xử bằng cách trực tiếp. Ám chỉ qua lời nói, qua cử chỉ, qua cách sinh hoạt. Gần như tôi sử dụng hầu hết là ngôn ngữ ám chỉ.

Quý vị vẫn chưa nói được nội dung thứ hai.

Cô bé Tuệ Tịnh Thanh hỏi thế này : Làm sao khi tiếp xúc với đối tác, mình tự tin mà thuyết phục người ta để có được hợp đồng tốt hay là thành công trong vấn đề giao tiếp ?

Thông thường, khi quý vị chạy đi kiếm sách vở để học về tự tin khi giao tiếp với người khác, quý vị sẽ thấy trong đó có đủ thứ kinh nghiệm : nào là phải giỏi ngoại ngữ, phải giỏi văn, phải giỏi toán, nào là thể hiện mình mình có kiến thức về việc đó… thậm chí còn nói : Tôi quen với thủ tướng chính phủ, tôi quen bộ trưởng bộ ngoại thương, tôi quen bộ trưởng bộ thương mại, tôi quen thống đốc ngân hàng rồi giở bóp lấy hình chìa ra bảo : Đây, hình tôi chụp với thủ tướng, với thống đốc ngân hàng đây. 

Quý vị làm như vậy người ta tin quý vị không ? Có phải làm như vậy là tự tin khi giao tiếp hay không ? Đó là kiểu tính toán của người đời, quý vị đã thấy rồi, bao nhiêu người tính toán lúc được lúc mất, trồi lên sụp xuống – phiền não vô cùng ! Cách thức thể hiện sự tự tin ấy không có căn bản. Tôi gợi ý tới đó cũng khá là chi tiết rồi, quý vị có thể nói thẳng vô vấn đề dùm cho tôi được không ?

-   Alô, con là Tuệ Lực Nhãn, con xin trả lời, có phải thầy đang nói đến việc phát triển trí chủ không ạ ?

-  Cũng không hẳn vậy.

Ví dụ, quý vị có một căn bệnh trong người, bệnh đó cũng đơn giản thôi, quý vị đương nhiên phải đi bác sĩ vì có khi ổng biết chuyện của mình mà trị hết. Thông thường khi mình đến bác sĩ nào thì mình phải tin ông bác sĩ đó. Bây giờ có 4 ông, quý vị mới đến giao tiếp với 4 ông này, trong đó :

- Ông thứ nhất có bằng bác sĩ đàng hoàng.

- Ông thứ hai thì giỏi khí công, biết châm cứu, bấm huyệt và một vài thứ lá cây trên rừng cộng thêm môn nhịn đói. Bệnh gì chữa cũng hết.

-  Ông thứ ba quảng cáo bệnh gì ổng chữa cũng hết.

-  Ông thứ tư thì được Cậu bảy hay mẹ Ngũ hành gì đó trên trời nhập vô và cũng tuyên bố bệnh gì chữa cũng hết.

Vậy thì, trong 4 ông này, quý vị tin ai ? Ai là người làm cho quý vị tin ? Ai là người tự tin nhất khi giao tiếp với quý vị ? Có lẽ người nào tiếp xúc với quý vị cũng đều tự tin là giúp được cho quý vị. Nhưng là một đối tác của 4 ông đó thì quý vị cảm thấy tự tin với ông nào nhất? – Khó ha, không phải dễ!

Một ông là bác sĩ, ổng rất tự tin vì ổng là nhà khoa học mà. Một ông cũng tự tin nhưng tự tin ít hơn vì mình là ông thầy lang, bấm huyệt, hốt thuốc. 

Một ông thì đại diện cho cậu Bảy hay mẹ Ngũ hành gì đó trên trời, cũng tự tin vì mình đang là người cõi trên, mình là cái xác cho người cõi trên dùng. Ông cuối cùng có kinh nghiệm về khí công và nhịn đói cũng thể hiện là mình tự tin. 

Vậy trong số những người thể hiện sự tự tin thì quý vị coi thử người nào có lòng tự tin vững chắc nhất? – Rất khó! 

Tôi đặt quý vị vào tình huống : quý vị là sinh viên mới tốt nghiệp, thậm chí không phải là sinh viên nhưng là thanh niên trong độ tuổi lao động và đang đi làm. Quý vị phải đi tiếp xúc với một số đối tác thì quý vị dựa vào cái gì để tự tin mà làm việc với người ta ?

Câu chuyện người bạn bên Nhật

Hồi hôm tôi có nói chuyện với ông bạn học cũ hồi nhỏ. Ông này qua Nhật mấy chục năm rồi, có cha là người Nhật. Ông kể tuy ông sống ở Nhật mấy chục năm, nuôi nấng các con, nhưng ông chưa hề bước chân vào trường nào của Nhật để học tiếng Nhật. Hai năm đầu mới sang, ông sống nhờ trợ cấp. Sau đó, chính thức vào làm cho hãng Sony, tại một xưởng có 28 người với hệ thống máy móc. Người ta biết ông không hề biết tiếng Nhật cũng không có nghề ngỗng gì nên sắp cho ông vào khâu chỉ cần nhìn thấy cái gì ra là lấy vậy thôi.

Ông ngồi ông nghĩ nghề mình không biết, tiếng mình cũng không biết – mình chẳng biết gì hết thì mình sẽ tin vào cái gì ? Nếu mình không đi làm thì họ sẽ không cho trợ cấp, nếu vậy thì làm sao mà sống ?Ổng không biết dựa vào cái gì để tự tin làm việc. Ổng mới tự nghĩ mình không phải là cái thằng thường, coi vậy chứ mình lanh lợi.

Ông này là bạn học của tôi khi còn thanh niên và quả thật ổng rất là lanh lợi, tốt bụng. Tư cách, nhân cách thì quá chuẩn rồi – rất đàng hoàng ! Chỉ có điều ổng không biết nghề, biết tiếng nên ổng tin là mình thông minh, lanh lợi. Mình ngồi mình dòm miết thế nào cũng biết cái đám này đang làm cái gì ? 

Thế là, anh vừa làm vừa dòm cái miệng người ta nói chuyện, vừa dòm máy chạy, thao tác làm việc. Khi máy bị hư có chuyên viên tới sửa thì anh dòm người ta sửa. Từ đó anh thuộc luôn mấy chữ mang tính chất chuyên môn kỹ thuật và biết sửa luôn khi máy hư. Anh kể có lần dây chuyền hệ thống bị hư, nhóm người đó chưa kêu chuyên gia đến làm thì ảnh tới ảnh sửa, sửa xong thì chạy được. Thế là người ta vỗ tay khen ngợi. Các lần sau cũng vậy, hễ dây chuyền hư là ảnh tới ảnh sửa. 

Ông sếp thấy vậy mới hỏi tại làm sao ông biết sửa, ổng bảo là cái chuyện này dễ lắm hồi ở trong nước VN tôi làm hoài ấy mà ! Chỗ này thì ảnh bảo với tôi là ảnh nói dóc chứ thật sự là anh dựa vào sự chú ý, sự lanh lợi của ảnh, ảnh có khả năng đó cao.

Khi ông sếp của xưởng đó xin nghỉ thì ban lãnh đạo mới quyết định đưa anh này lên làm sếp của xưởng đó. Buồn cười nhất là anh này không biết chữ gì ! Nó cấp cho cái bàn, con dấu, hễ ai xin phép đi đâu, làm gì – tất cả đều phải có chữ ký và con dấu của ảnh thì mới được đi vì ảnh làm sếp mà. Ảnh kể có người xin nghỉ phép vì con bệnh anh biểu người ta làm đơn, khi đưa đóng dấu thì anh bảo người ta đọc xem họ viết cái gì trong đó. Người ta hỏi bộ ông không biết đọc à ? Ổng bảo không tao ở VN qua, tao không biết tiếng, tao không có học chữ nào hết ! Thôi mày đọc tao nghe đi tao hiểu à. Người Nhật kia sau khi đọc xong, ổng bảo ok đưa đây tao kí. 

Ảnh làm việc rất giỏi, rất nhiệt tình, rất tốt được nhiều người tin tưởng mặc dù không biết chữ. Cái đám Sony đó, đi đâu họp cũng bắt ảnh đi họp. Anh bảo tôi có hiểu gì đâu mà bắt tôi đi họp, nhưng ảnh kể ảnh dòm miệng dòm mắt là ảnh đoán được hết. Cái cơ bản là mình ráng để ý, ráng học và làm tốt thì người ta tưởng mình. 

Một thời gian sau họ giao cho ảnh cũng nhiều việc, thu nhập cũng khá, một tháng được 100 nghìn yen. Mấy đứa con đi học đủ thứ cuối cùng không đủ sống, ảnh nuôi hết, mua nhà mua cửa trên cái đồi nên vừa rồi ở trên cái đồi nên được an toàn. 

Bây giờ ảnh lắm ăn chỉ nhờ cái miệng, không có cơ sở, nhân viên gì hết, tất cả dùng điện thoại không. Cơ quan thuế thấy anh thu nhập cap, đến hỏi thăm văn phòng, bến bãi, nhân viên đâu. Anh thưa không có. Người ta lại hỏi vậy chứ anh làm bằng cái gì. Anh bảo tôi làm bằng cái miệng của tôi thôi. Tôi có bao nhiêu tôi khai với mấy ông như vậy. Người ta ngạc nhiên thấy doanh số cao mà chẳng có văn phòng, cơ quan gì cả. Câu chuyện đại khái như vậy. 

Một người đứng đầu một xưởng máy của Sony, một chữ tiếng Nhật cũng không biết mà người ta vẫn tự tin, từ một nhân viên quèn được nâng lên làm quản trị trong một thời gian ngắn, vậy thì anh đó rõ ràng thể hiện sự tự tin của mình. Anh không dựa vào nghề nghiệp, không dựa vào việc biết tiếng Nhật.

Đó là phần tôi bổ sung thêm cho câu hỏi của Tuệ Tịnh Thanh về vấn đề làm sao thể hiện được mình có một niềm tin, có sự tự tin khi giao tiếp với cộng đồng, đối tác làm ăn? Quý vị hãy nhớ như vậy chứ đừng có dựa vào quan hệ quen biết thủ tướng với cả thống đốc. Đó chỉ là vấn đề phụ thôi.

Ngay trong thâm tâm, mình tự tin rằng, dù  ít hay nhiều thì mình cũng có chút giá trị đóng góp cho người khác


Những gì Hg Duy Trung Y1 đã chia sẻ với quý vị thuộc về kinh nghiệm, về kỹ thuật chuyên môn. Còn tôi chia sẻ cho quý vị là phải dựa vào bản chất. Bản chất đó là bản chất gì? Ngay trong thâm tâm, mình tự tin rằng, dù  ít hay nhiều thì mình cũng có chút giá trị đóng góp cho người khác. Hãy tin vào một chút khả năng chia sẻ cho người khác, khả năng làm cho người ta cười, khả năng làm cho người ta vui, khả năng làm cho người ta hết buồn, khả năng làm cho người ta kể chuyện riêng tư của người ta ra để người ta đỡ bị stress hay khả năng khai mở cho người ta về tâm hồn. Mà quý vị đang học khả năng khai mở tâm hồn nên đối với quý vị rất dễ. 

Tôi nói tối thiểu là từ trong đáy lòng mình tin rằng mình có thể đem lại lợi ích nhỏ nhất cho người khác – niềm vui nhỏ nhất hay niềm tin nhỏ nhất cho người khác. Anh hãy tin tôi, mặc dù bây giờ anh chưa hiểu tôi, anh chưa biết tôi, anh thấy tôi có vẻ như kẻ vô dụng. - Nhưng trong bụng mình, trong thâm tâm mình nghĩ rằng một ngày đó mình sẽ thể hiện được mình là người có lợi chẳng những cho mình mà còn cho người khác. Không phải tôi là người làm phiền người khác, không phải tôi đến nước Nhật là anh phải nuôi tôi. Một ngày nào đó anh sẽ hiểu, sẽ thấy, sẽ biết tôi là người có lợi cho anh mặc dù bây giờ nhìn qua thì tôi hai bàn trắng, không biết chữ, không biết nghề.

Đó chính là nền tảng giúp cho chúng ta tự tin khi chúng ta tiếp xúc với người khác.

Câu chuyện một vị sư học tiến sĩ Phật học

Chuyện anh mua bằng giả, rồi anh in card visit tôi là tiến sĩ này, tiến sĩ nọ, tốt nghiệp đại học này, đại học nọ. Tất cả đều chẳng có giá trị gì.

Hồi tôi ở bên Ấn độ, tôi có gặp 108 vị sư đang theo học tiến sĩ phật học tại đó. Trong số đó có rất ít vị học căn bản và nghiêm túc còn đa số là học hổng chân hết! Thì có một vị trong số các vị học căn bản và nghiêm túc đó tìm đến và trò chuyện với tôi :

-  Thầy Duy Tuệ coi dùm tôi, tôi tốt nghiệp xong, tôi có cách thức gì đóng góp cho Phật giáo VN không? 

Tôi mới bảo:

-  Thầy có một cái sở học rất tốt, nhưng mà thầy thật sự có đóng góp gì cho đạo pháp trong nước thì tôi có ý kiến như thế này.

Tôi nói rất nghiêm túc:

-  Sau khi thầy tốt nghiệp tiến sĩ xong thì việc đầu tiên là thầy phải đi chơi vòng vòng mấy cái núi ở Ấn độ chừng một hai năm. Rồi sau đó, đem cái bằng về đốt, không đốt cái bản copy mà đốt cái bằng thiệt đó, đốt đi mà không để lại dấu vết. Sau hai năm dạo núi rừng và đốt luôn cái bằng thiệt, thầy trở về nước và không được nói với ai là mình có bằng tiến sĩ phật học, cũng không cho ai biết mình là tiến sĩ phật học, thì lúc ấy thầy có khả năng đóng góp cho đất nước và đạo pháp.

Tôi nói xong, ổng ngồi làm thinh, ổng gật đầu. Tôi nói tiếp :

-  Tại sao tôi phải góp ý cho thầy như vậy? Bởi vì người không có bản lĩnh, người giả mới muốn giơ cái bằng thật ra. Còn người thật thì phải đốt luôn cái bằng thật. Không cho ai biết là mình có bằng cấp gì thì mới gọi là người thật. 

Lúc đó mình đóng góp là đóng góp từ tâm hồn của mình chứ không dựa vào bằng cấp. Anh còn lòe cái bằng, nhất là trong ngành phật học, thì cái đó vô cùng xoàng xĩnh. Một người trụ trì dốt nát, không bằng cấp nuôi anh ăn học, anh có bằng cấp không có nghĩa là anh hơn người đó. Cho nên cái chỗ làm cho mình tự tin không phải cái bên ngoài mà là cái tâm hồn bên trong, cái ý nguyện của anh.

Tôi nhắc lại hai yếu tố : Một yếu tố mà quý vị đã phát biểu cộng thêm yếu tố làm cho mình tự tin – mình tin vào khả năng tối thiểu của mình là mình làm cho người khác vui trong mối quan hện giữa mình và người ta. Đó là điều kiện mang tính chất bản chất để giúp cho chúng ta tự tin trong tất cả mọi quan hệ chứ không chỉ quan hệ mua bán kinh doanh. 


Dĩ nhiên trong quá trình mua bán kinh doanh anh cũng phải thể hiện một vài hình thức bên ngoài, cái đó cần phải có, nhưng bản chất bên trong mới là cái quyết định và cái đó có thể người ta không thấy được. Anh chỉ âm thầm thực hiện, anh theo đuổi nó, anh tin vào tính trung thực của anh, anh tin vào quyết tâm của anh, anh tin vào lòng thiện của anh, anh tin vào cái gì đó mà anh có thể làm cho người ta vui. Và, anh tin rằng anh sẽ là người bạn tốt của người kia và anh tin rằng người kia không bị lầm khi chơi với anh. Anh tự mình cam đoan rằng người kia không bị lầm khi quan hệ với anh, mặc dù người ta chưa hiểu mình nhưng rồi người ta sẽ hiểu mình. Đó là những bản chất rất căn bản, rất quan trọng để cho anh tự tin. Giống như hiền giả Minh Triết, có thể anh ăn nói dở, anh trình bày dở, anh còn thiếu thốn nhiều thứ nhưng anh có một sự tự tin là anh sẽ có những đóng góp tốt cho những người quan hệ với anh. Chính cái đó làm cho anh tự tin trong giao tiếp. 

Cũng như bây giờ, tôi không cần chứng minh bất cứ cái gì để thuyết phục ai tin tôi, tôi không cần chuyện đó và từ xưa tới giờ tôi cũng không bao giờ làm chuyện đó! Tôi cứ nói ngang ngang vậy đó, anh nghe được thì nghe, không được thì thôi! Nhưng trong lòng, trong sâu thẳm tôi biết rất rõ là bất kể ai quan hệ với tôi thì dứt khoát trước sau gì cuộc đời của họ sẽ rất tốt đẹp, trước sau gì cuộc đời của họ cũng sẽ thay đổi, trước sau gì hoàn cảnh gia đình của họ sẽ khá hơn. Và tôi rất tự tin vào chuyện ấy bởi tôi có đầy đủ tấm lòng, tôi âm thầm cư xử với họ như vậy. Không bao giờ trong lòng mình cho phép mình không nghĩ đến niềm vui của người khác mà chỉ nghĩ tới mình không. 


Mà gần như chỉ có một chiều mà thôi là làm sao cho người ta vui, còn chiều ngược lại thì không cần. Và chính cái đó tạo cho mình sự tự tin trong cuộc sống của mình.


Trích Master Duy Tuệ - Ánh Sáng Kỳ Diệu & Bóng Tối Điên Đảo - 26.4.2011 (* Tựa đề do người ghi tạm đặt)