"Khai mở nhận thức sâu thẳm và duy trì cảm xúc tình người thiêng liêng"

....

.

.
.

ABA Quotes

Showing posts with label Hiểu Phật. Show all posts
Showing posts with label Hiểu Phật. Show all posts

140 - 'Thiên Thượng, Thiên Hạ, Duy Ngã Độc Tôn' ám chỉ điều gì ?


“Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” là câu nói của con người. Câu nói này nhằm mang lại lợi ích cho người nghe, để cho người nghe thức tỉnh về giá trị làm người của họ. Cho nên câu nói trên có thể giải thích rằng là: Trên trời dưới đất này, đời sống của con người là đặc biệt có giá trị, là đặc biệt hay! Hãy tìm hiểu giá trị đặc biệt của mình chứ đừng tìm hiểu giá trị đặc biệt nào nằm ngoài con người của mình, trước nhất là cần tìm giá trị đặc biệt nơi chính mình trước. Khi mình đã tìm thấy giá trị đặc biệt nơi chính mình rồi thì hãy đem giá trị đặc biệt ấy để ứng dụng vào cuộc sống mà chúng ta đang hiện hữu. Nếu chúng ta không hiểu được giá trị đặc biệt của chính mình thì mình sẽ bị lầm lạc trong cuộc sống, mình sẽ rắc rối trong cuộc đời.

Vậy chúng ta tìm hiểu giá trị đặc biệt của mình như thế nào ?

Ví dụ như nếu không có mình, tức là chữ “độc tôn” mình có thể hiểu, nếu không có mình hiện hữu, thì cũng không có Phật, không có Chúa, không có quả địa cầu này, cũng không có thiên đàng, cũng chẳng có địa ngục.

Khi chúng ta vào phòng xác ở bệnh viện, nhìn những thân xác và quí vị hãy tự hỏi rằng: Sự sống của người này đã không còn hiện hữu nữa thì thiên đàng có còn đối với người này không? Địa ngục có còn với người này không? Cảnh giàu hay nghèo, đúng hay sai có còn đối với người này không? Và tất cả những gì trong cuộc đời này còn có đối với người này không?

Đối với bản thân chúng ta cũng vậy, chúng ta bàn và nói chuyện nhiều thứ, nói chuyện trên trời dưới đất, nói chuyện thiên hạ đúng sai… Khi có sự cố đột xuất, chẳng may chúng ta bị hở mạch máu não hay bị đột quỵ, nằm đó …. thì toàn bộ sự hiện hữu ở thế giới này, như Chúa, Phật, triết gia với thuyết này, chủ nghĩa nọ có còn giá trị gì nữa không? Rồi sách vở này, kinh điển kia, tôn giáo này, tôn giáo nọ, hay đúng sai trên đời có còn giá trị gì nữa không? Không còn giá trị gì nữa! Tất cả đều chấm hết. Chỉ khi nào mình còn tỉnh táo, thì mọi thứ nó mới chi phối mình được. Mình mới còn nghĩ đến chuyện này chuyện nọ được.

Cho nên việc đầu tiên cần phải biết là, sự tồn tại của mình, sự hiện hữu của mình là trước nhất, đồng thời phải biết làm sao với sự hiện hữu của mình, cái gì trong con người của mình là cơ bản để sự hiện hữu của mình được hoàn hảo nhất. Từ đó, mình quay ngược để nhìn lại về cái này thì mình sẽ không bị lầm lẫn về mình và tự nhiên mình sẽ nhìn ra bên ngoài - tất cả mọi thứ điều sáng suốt, đều rõ ràng. Đây là quá trình làm một con người và phải nắm chắc quá trình này thì mình sống mới yên ổn được.

Lời nói “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” muốn ám chỉ điều gì cho người nghe ?

Lời nói ấy ám chỉ người nghe rằng: Anh làm sao để anh thấy sự hiện hữu của anh để anh sống mà không có nỗi lo sợ. Nếu mình sống trong nỗi lo sợ thì mình phải quay ngược lại vào chính mình, để khám phá chính mình thì nỗi lo sợ sẽ chấm dứt.

Cho nên, những câu nói tương tự như trên như là một bí pháp, một phương pháp để giúp cho người nghe tỉnh trí lại, để từ đó khám phá sự thật về mình mà vượt qua sự sợ hãi, vượt qua sự hiểu lầm về chính mình. Nó giống như một dấu hiệu đi đường vậy thôi. Mình đừng có chạy theo giải thích sâu câu này.

Ví dụ như trên đường đi mình thấy dấu hiệu đi đường, có vẽ một mũi tên chỉ cho mình đi hướng này. Nếu mình không biết mà mình lại giải thích, đây là cái mũi tên, mũi tên này đầu này to, đầu kia nhỏ, hai cái này giống như lưỡi câu, có móc nhọn nhọn … Mình không chạy theo giải thích mũi tên trong cái bảng ấy, hãy nhìn cái mũi tên để biết nó chỉ mình đi đâu.

Câu nói này cũng vậy, “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” giống như dấu hiệu đi đường. Mình đừng có dại mà chui vào đây giải thích cái này, mất thì giờ, không hiệu quả gì hết. Nếu mình dính vào câu chữ đó, thì mình không biết đường để đi.

Như thực tế chúng ta đều thấy rất rõ rằng, những bậc đại tiền bối tài ba, những bậc Đại Giác Ngộ, các Chư Phật, đã dùng những câu chữ để tạo ra những dấu hiệu đi đường cho mọi người nhìn vào đó và làm sao để đi an toàn nhất. Chúng ta không giải thích một cách cụ thể, kiểu như là: thiên thượng là trên trời, thiên hạ là ở dưới đất, duy ngã là bản ngã của mình, độc tôn có nghĩa là vị Phật là trên hết..…Chúng ta không giải thích theo kiểu như vậy! Mình thấy đơn giản đây là dấu hiệu đi đường, để chỉ cho mình biết rằng mình đang hiện hữu và thấy dấu hiệu này thì mình biết là mình đang đi trên con đường, mình đang sống tức là mình đang ở trên cõi đời này, mình làm sao mình đi cho nó đúng và an toàn nhất, không nguy hiểm.

Mình không giải thích theo kiểu: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” là một câu nói cao siêu lắm, nếu giảng hoài thì không bao giờ hết, nó sâu sắc lắm, vi diệu thậm thâm lắm, khó nghĩ khó bàn, có duyên phước lắm mới có thể học được. Mấy chữ này coi vậy, nếu giải thích thì vô lượng vô biên chữ, kinh điển nhiều lắm …

Đơn giản câu nói chỉ là một dấu hiệu đi đường! Mình đang có mặt trên cõi đời này vô cùng rộng lớn mênh mông mà không biết đi thế nào cho đúng. Khi có bảng dẫn đường, mình nhìn theo dấu hiệu ấy và cứ thế mà đi.

Phương pháp nào để xác định con đường đi tốt nhất ?

Mình muốn sống cho tốt, trước nhất mình thấy người khác và thấy cuộc đời cái gì ra cái đó để mình tỉnh táo, mình ứng xử, vì thế mình phải thấy thật rõ về chính mình, mình hiểu thật rõ về chính mình. Đó là phương pháp để thấy rõ và hiểu rõ bên ngoài.

Phương pháp để thấy rõ và hiểu rõ bên ngoài là phương pháp duy nhất để thấy rõ và hiểu rõ chính mình trước. Đó là con đường duy nhất mình phải đi qua, để mình thấy rõ và hiểu rõ con người và cuộc đời bên ngoài, thế giới bên ngoài. Khi mình thấy rõ được chính mình rồi, hiểu rõ về chính mình rồi, mình sẽ không lầm lẫn về chính mình nữa, mình sẽ chấm dứt sự lầm lẫn về con người và cuộc sống xung quanh mình. Như vậy, mình sẽ làm chủ được cuộc sống nơi mà mình đang hiện hữu.

Mình có thể làm kinh tế, nhưng không bị chuyện làm kinh tế này hành hạ mình. Mình có thể kiếm tiền nhưng không thể bị đồng tiền này hành hạ mình. Mình có thể cưới vợ, lấy chồng nhưng không có bị người vợ, người chồng hành hạ mình. Mình có thể sống một cách hồn nhiên, thoải mái, không đổ thừa kiếp trước, không sợ kiếp sau. Chuyện kiếp trước, kiếp sau… chẳng qua là một trong những kĩ thuật để người ta làm cho cái đầu con người bớt nóng để từ đó dẫn mình đi tiếp. Nhiều người không thấy rõ, hiểu rõ, từ đó bị lầm cái này.

Thí dụ, mình vô tình hoặc cố ý gặp một vị xem bói toán. Ông ấy nói, ta thấy con biết con kiếp trước là một con của một nhà vua có tiếng trong một xứ đó, con đã từng làm công chúa rồi, nhưng con bị hất hủi, con bị hiểu lầm, cho nên mặc dù là công chúa nhiều khi con bị đau khổ lắm… Thế là, mình tưởng là công chúa thiệt, và nói, trời ơi sao thầy thấy tiền kiếp con rõ quá vậy! Nhiều lúc con bị hiểu lầm, con buồn lắm thầy ơi! Rồi mình xúc động, mình khóc lên, mình chảy nước mắt… thế là mình sa vào cái bẫy.

Tính biết của mình, mình muốn làm cái gì thì nó cho mình làm cái nấy. Muốn làm công chúa, làm hoàng hậu, làm vua, làm tổng thống … nó có khả năng cho mình tất cả, kể cả muốn làm tướng cướp, kẻ lừa đảo nó cũng cho mình có khả năng làm tướng cướp, khả năng làm kẻ lừa đảo ... 

Tính biết nó làm như vậy, có khả năng như vậy. Cho nên, mình không nắm vững nguyên tắc này, mình sẽ bị người ta dẫn mình đi vào thế giới hoang đường. Khi nào chấm dứt sự lầm lẫn về chính mình, quí vị sẽ hoàn toàn tự tại. Có biết bao người trên thế gian này không bị lầm lẫn về chính mình, quí vị đếm thử đi, có được bao nhiêu người ?

Vậy, chúng ta thấy rõ và hiểu rõ ra sao để không lầm lẫn ?



Quý vị hiền giả Minh Triết đang trên con đường để nhìn thấy rõ về mình, hiểu thật rõ về mình, thấy thật rõ về mình mà không thể thấy lầm lẫn được, quí vị thấy người khác cũng như vậy.

Ví dụ, khi quí vị thấy rõ về mình rồi, thấy rõ sức mạnh của vô tướng, của vô hình rồi thì quí vị thấy người ăn cướp, người chuyên môn ăn trộm mà mình thấy rõ nó đang ăn trộm. Nếu quí vị thấy, thằng này là kẻ ăn trộm, cuộc đời thằng này chẳng ra gì. Hỏi lại, quí vị có thấy rõ, hiểu rõ về người đó không? Thì quả là chưa! Mình mới thấy mới có một chút xíu thôi, là mình thấy nó đang ăm trộm của người khác, mình chưa thấy cái còn lại của nó.

Cho nên, tôi dùng khái niệm về 3 cái nhà để quí vị ghi nhớ trong đầu của mình. Đó là, nhà tù, nhà chùa, nhà thờ - chúng ta đều gọi là nhà. Ba cái nhà này đều mang hình tướng bên ngoài và nội dung bên trong. Quí vị thấy nhà chùa là thấy đạo đức, thấy nhà thờ là thấy đạo đức, thấy nhà tù là thấy những người có tội. Hình tướng của nhà tù là chứa những người có tội, hình tướng của nhà thờ và nhà chùa là chứa những người đạo đức.

Nếu chúng ta bỏ hình tướng sang một bên. Vậy bên trong hình tướng là cái gì ? Có chắc gì nhà thờ, nhà chùa đó hình tướng đạo đức ấy, bên trong có đạo đức không ? Có chắc không ? Còn nhà tù kia, liệu ở bên trong ấy có chứa những con người có tâm hồn cao thượng hay có giấc mơ, có lí tưởng không? Chúng ta xem lại liệu có không ?

Tôi chỉ gợi ý cho quí vị thế nào thấy không lầm, hiểu không lầm, thấy cái gì ra cái đó. Việc thấy không lầm, hiểu không lầm đó sẽ đưa chúng ta tới một trạng thái của bộ não mà không thể nào bản ngã hiện hữu được.

Thế nào là bản ngã hiện hữu ?

Ví dụ như khi chúng ta nói: Ôi chao, ngôi chùa kia to quá! Trong đó đúng là đạo đức thật. Ôi chao, nhà thờ kia vĩ đại quá! Trong đó đúng là đạo đức thật. Cái nhà tù kia kinh khủng quá! Đúng là cái nhà tù đó, chứa những người nguy hiểm thật. Nếu chúng ta nói như vậy, là hoàn toàn bản ngã, do sự thấy lầm hiểu lầm, thấy không rõ, hiểu không rõ mà chúng ta đang phát biểu theo cái hướng của bản ngã. Khi thấy lầm hiểu lầm, tự nhiên bản ngã sẽ hình thành trong đầu chúng ta, và nó bắt chúng ta phải làm việc theo sự hiện hữu của nó.

Quí vị nên nhớ một điều là khi đọc một câu chữ ở đâu đó, thì phải chú ý, người xưa dùng chữ nghĩa như là những dấu hiệu đi đường thôi! Đừng đi sâu vào phân tích, làm bí hết rồi cãi nhau suốt ngày, không có hiệu quả gì hết, rồi nói mình hơn, mình cao, mình thấp. 


Minh Triết không có con đường cao thấp! Người Minh Triết chỉ theo con đường thấy rõ, hiểu rõ. Thấy rõ cái đầu của mình, thấy rõ con tim của mình, thấy rõ cơ thể của mình, thấy rõ những gì thuộc về thế giới vô hình của mình

Khi mình thấy rõ thì bản ngã của mình không có lên được, mình hành động không có lầm lẫm được. Thí dụ như khi quí vị làm ăn phát tài, khi chưa học Minh Triết chỉ thấy mình có tài, chỉ thấy mình có thời thôi, còn người học Minh Triết lại thấy khác. Nếu quí vị đang học Minh Triết, thấy rằng là quí vị đang làm ăn được, hoặc mình đang làm ăn được mà còn học Minh Triết nữa, mình lại thấy khác. Thứ nhất thấy mình có may mắn, thứ hai thấy mình là có sức mạnh đầu óc, sức mạnh vô tướng của mình can thiệp đến sự may mắn này rất là lớn. Mình không đề cao kiến thức mình làm được, mình không đề cao hữu tướng mình làm được thì làm sao mà mình dính vào sự tự cao tự đắc được.

Quí vị chú ý như vậy, để khi mình có đọc sách hay nghe thấy đâu đó thì mình nhận biết cho rõ…Nếu chạy theo và giải thích theo từng câu chữ, quí vị có tái sinh đến một ngàn kiếp cũng không giải thích hết đâu.

Nếu ai đó hiểu theo kinh sách đã học mà thấy là hạnh phúc thì hãy theo hướng đó, còn nếu nhận được một điều gì đó có giá trị hay có lợi cho mình khi theo phương pháp hướng dẫn của Thiền Minh Triết thì hãy theo phương pháp này mà ứng dụng thử xem.
 

Hãy căn cứ vào quyền lợi của mình để mà học. Mình đi theo tôn giáo, mình đi học ở đâu cũng vậy, phải căn cứ vào lợi ích của mình, căn cứ vào sự thỏa mãn của mình. Lợi ích là phải nói đến sự thỏa mãn, sự thỏa mãn hoàn toàn. Nếu theo phương pháp hướng dẫn của Thiền Minh Triết mình tập luyện, mình thấy thỏa mãn thì phương pháp này có lợi cho mình, cách giải thích này có lợi cho mình. Ngược lại, nếu mình hiểu theo cách hiểu trong kinh điển mà nó hoàn toàn đáp ứng, hoàn toàn thõa mãn cho mình thì mình theo cái đó. Vấn đề là mình thỏa mãn và mình sống đừng có lầm lạc trong cuộc đời, mình sống lúc nào cũng vui, mà vui thật tình chứ không vui đóng kịch. Vui thực tình là vui không điều kiện.

Có hai loại niềm vui: Vui có điều kiện và vui không điều kiện. Mình luôn nhớ như vậy.

Tất cả quí vị cũng nên nhớ một điều là đừng có bỏ quên việc cầu nguyện hàng ngày. Cầu nguyện là quan trọng, quí vị hãy ráng giữ việc cầu nguyện. Trong Minh Triết, thường xuyên cầu nguyện cũng là một pháp để giúp cho cái đầu chúng ta, bộ não chúng ta tốt hơn.

Trích Master Duy Tuệ -  24/01/2010
(Ghi chú Hình ảnh trong bài: hoa Vô Ưu đang nở tưng bừng tại CLB Trần Nhân Tông Linh Xuân, Thủ Đức, Tp.HCM - Nơi đang tôn thờ Đức Phật Trần Nhân Tông - địa chỉ 218, Ql1k, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức)

169 - Những thông tỏ về Vu Lan Báo Hiếu sau hàng ngàn năm mờ mịt


1. Chúng ta mượn ngày báo hiếu như một cơ hội để phát huy những phẩm chất tốt đẹp giữa chúng ta với người xung quanh ở tất cả các mối quan hệ, chứ không riêng gì giữa cha mẹ và con cái. Nhân ngày này, chúng ta kiểm tra lại, đánh giá lại, và cố gắng thể hiện mối quan hệ bình đẳng, trách nhiệm, thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, quan tâm đến nỗi cô đơn, nỗi khó khăn riêng của nhau. Đó là cách báo hiếu đúng theo nền văn minh Việt Nam. 

171 - Tại sao Phật dạy đừng hiểu Phật qua hình tướng hay âm thanh của Phật?

Phật dạy đừng hiểu Phật qua hình tướng hay âm thanh của Phật. Phật dạy rằng khi nào có một người nào đó nhận ra Phật Tâm của mình rồi thì người ấy sẽ thấy Phật và hiểu Phật. Ngày nào chưa làm được điều này thì dù có nghe chính âm thanh của Phật nói ra hay nhìn chính thân tướng chúng sinh của Phật cũng như chẳng thấy gì và chẳng hiểu gì huống chi là những chữ nghĩa trong kinh sách.

139 - Cái mình biết được rất nhỏ so với cả thế giới còn nằm trong bí mật và rất nhiệm màu

 1.Trong tính linh có một chỉ số đo tương đối chính xác mà đầu óc kinh nghiệm không biết được vì đầu óc kinh nghiệm đòi hỏi phải đầy đủ dữ liệu thì may ra nó mới phán xét được. Nếu đầu óc kinh nghiệm chưa thể phán xét thì tính linh bên trong sẽ làm việc. Khi nó làm việc thì nếu có cái gì mình thấy không yên tâm thì bỏ đi, đừng tiếc. Cái đó, đa số, là do tính linh báo cho đầu óc kinh nghiệm biết. 

Ví dụ quý vị đi mua một lô đất, người bán đang cần tiền nên bán gấp và khá rẻ, trong khi quý vị thấy ở đó khá hoang vu và cũng chưa có tài liệu quy hoạch chính thức gì về vùng đất đó. Vì nó chưa quy hoạch nên quý vị cũng chưa biết mua rẻ để làm gì. May ra 10 năm sau nó làm sân bay mua còn có lí, mình chờ 10 năm. Còn cái này thấy rẻ quá mà mua những không biết để làm gì, không biết bao giờ mới kiếm lời được từ lô đất này hay là để cho con cháu chăng? Khó xử lí quá! Nhiều khi vận may mà mình không biết được. Nên mình phải làm thinh, tối ngủ lắng nghe tâm hồn mình thêm vài ngày. Mình thấy người ta bán rẻ quá giống như cho mà mình mua thì không biết để làm gì? Mà chôn vốn vô đây thì cũng kẹt, cũng mấy tỷ. Mình thấy thôi, chưa yên tâm, chưa trả lời được. Mà không mua thì cũng tiếc vì rẻ quá - Nếu thấy vậy thì đừng tiếc nữa mà hãy bỏ đi.

Còn nếu vẫn chưa biết mua để làm gì, cũng chưa có quy hoạch, chưa có tương lai sáng sủa gì, nhưng thấy trong người thấy vui lắm cũng không để ý đến chuyện chôn vốn nữa thì mua. Và, rất nhiều người trúng nhờ như vậy, không có suy tư hy vọng gì mà chỉ thấy hồ hởi trong lòng. Tự nhiên thời gian sau có quy hoạch thật thì người ta được trúng. Tính linh sẽ giúp cho mình hành động hay không hành động chứ không có căn cứ gì cụ thể. 

Một ví dụ khác, quý vị đang đi ngoài đường, tự nhiên có một bà nào đó nói khan khan : Cẩn thận nha, cẩn thận đó, từ nay về sau cẩn thận nha! Người đó nói xong rồi bỏ đi mất thì thể nào quý vị cũng bị tác động rồi suy nghĩ không hiểu người ta dọa dẫm mình vì lí do gì, mà mình lại không quen biết họ, rồi xét tới xét lui. Những gia đình nào có con trai một hay bị kẻ lợi dụng dọa dẫm : Coi chừng thằng bé này năm nay bị hạn nha!  Người ta nói khan khan vậy thôi. Mình bắt đầu sợ, chạy đi kiếm người về cúng, bởi vì lỡ nghe rồi giờ biểu yên tâm làm sao yên tâm cho được? Mà cái ban cúng tể có tha cho đâu, họ tiếp tục bày hết hạn này tới hạn khác, thế là mình bị dính luôn vào mấy cái hạn đó.

2. Quý vị may mắn vì đã có tên phật, đã có cõi mầu nhiệm bên trong rồi. Đầu óc kinh nghiệm vì quen sợ nên lỡ nghe như vậy thì sợ quá. Đầu óc kinh nghiệm phải hỏi đầu óc không kinh nghiệm, mình cầu nguyện cho đầu óc kinh nghiệm yếu đi để đầu óc không kinh nghiệm cưu mang dùm nỗi lo sợ vu vơ này. Rồi mình bắt đầu nghiên cứu và phát triển tính sáng này, chỉ tin vào con người có tên phật hay tin vào cõi không có kinh nghiệm.  

Còn đây chỉ là cõi kinh nghiệm, mình nghe mình sợ vậy thôi. Mình cứ tin vào cõi không kinh nghiệm mặc dù mình vẫn chưa biết nó là cái gì. Rõ ràng, một bên là kinh nghiệm thì bên còn lại là không kinh nghiệm. Mình bỏ phần kinh nghiệm đi thì phần còn lại là không kinh nghiệm. Đơn giản vậy thôi! Mình giao cái mạng mình cho phần không kinh nghiệm kia thì mức độ sợ sẽ giảm xuống. Khi mức độ sợ giảm xuống thì phần tính linh kia đã bắt đầu hoạt động rồi, còn nó hoạt động như thế nào thì mình không thể biết được. Nhưng nó sẽ làm cho mình yên ổn. Cho nên, quý vị tập đừng có dựa vào những gì mình đã biết mà luôn luôn cố gắng hy vọng và tin vào điều mình chưa biết.

Hãy cố gắng hy vọng vào chuyện tốt lành trong không gian mà mình chưa biết nhưng cũng bớt tin, bớt dựa, bớt vui sướng vào những chuyện đang tốt lành, đang thuận lợi. Đó là cách làm giảm ảnh hưởng của đời sống kinh nghiệm. 

3. Cái mình chưa biết lớn lao vô cùng, còn cái mình biết và đang xảy ra mà mình cho rằng lớn hoặc cũng chưa phải là lớn so với người khác; hoặc chấp nhận được, nhưng vẫn luôn luôn là nhỏ so với cả thế giới còn nằm trong bí mật mà mình chưa biết. Cái đó không phải ở trên trời cao, trên chín tầng mây mà nó ở ngay bên trong đầu óc chúng ta, ở ngay xung quanh chúng ta, ở ngay trên hành tinh này. Khi chúng ta tin và chờ đợi cái chưa thấy thì cái tầng ánh sáng trong đầu chúng ta sẽ phát ra. Cái đó câu thông làm một với thế giới rộng lớn mà chúng ta không hiểu được. Chúng ta sẽ sống bằng lực đẩy của sự thống nhất này. Luật của lực đẩy này sẽ đẩy chúng ta trong quy luật đó, mà luật đó chúng ta cũng chưa có khả năng biết. Đó là bàn tay vô hình của tạo hóa.

Quý vị thấy đó, một con chó cứ 3 tháng thì nó phải nhảy đực để làm cái việc truyền giống, mà qua ngày đó giờ đó thì nó không làm chuyện đó nữa. Đến ngày giờ đó, đúng chu kì đó là nó phải làm. Nó réo, nó hú, nó phát ra mùi, phát ra ánh sáng, tức là sự nhiệm mầu của tạo hóa đã sắp đặt hết rồi. Còn con người thì lên kế hoạch, sắp xếp, tuy cũng có mặt tốt nhưng phải lãnh hậu quả do kế hoạch do chính mình sáng tạo ra. Tức là mặt được và mặt mất sẽ đi liền với nhau. 

Đời sống tâm lý của mình khổ vì mình có quy định, có quy ước nên khi nó không xảy ra theo đúng như mình quy ước. Nếu mình cứ thuận theo lực và luật tự nhiên của tạo hóa thì đâu có bị ảnh hưởng xúc cảm khổ đau của tinh thần. Quý vị phải tập, tập hy vọng, tập chờ đợi chuyện tốt đẹp chưa biết sẽ đến.

Cho nên, cái gì mình đang có và đang mất, nếu mình không hướng nhận thức của mình về cõi chưa biết kia thì khi mình mất, mình đau lòng sẽ dẫn đến tự tử hay gây chiến tranh đoạt lại ; hay là mình đã đạt thì thấy tự mãn một chút ít thôi rồi sau đó cũng không thấy tự mãn gì nữa và cảm thấy bực bội, chật chội trở lại. Đầu óc chiến tranh cứ phát triển hoài cho nên hòa bình không có được. Lĩnh vực này, quý vị phải tập và nhận ra từ từ. 

4. Tôi cũng trao đổi nhiều lần, quý vị muốn mở trí đặc biệt không phải là đi đúc kết và phát triển kiến thức từ những gì tôi giảng dạy hoặc những tài liệu khác mà thành trí tuệ được. Tôi chỉ dùng ngôn ngữ ám chỉ, quý vị phải hướng nhận thức về cái tôi ám chỉ, cái mà mình chưa biết thì trí riêng sẽ phát. Đồng thời những gì quý vị đọc quý vị có thể tiêu thụ được và biến thành của mình, lúc ấy quý vị sẽ dùng được một cách tự tin.

Điều mà quý vị còn bị dính nhiều đó là cách đặt câu hỏi. Quý vị nên đặt những câu hỏi liên quan đến việc làm sao để mở trí riêng của mình, tức là chúng ta không đi vào kho kiến thức của thế gian mà chúng ta đi vào sự huyền bí của đầu óc và vũ trụ. Còn quý vị bàn làm sao để cập nhật kiến thức của nhân loại lại là chuyện khác. Làm sao để chúng ta thường phát sinh ra trí riêng? Những câu hỏi như vậy sẽ giúp cho quý vị đi vào cõi huyền bí chung quanh chúng ta, của trời đất. Mình gọi huyền bí tức là sẽ đi vào cái lực và luật mầu nhiệm của tạo hóa cũng như lực và luật mầu nhiệm của đầu óc tự do. 

Cho nên, chúng ta hãy quên đi mấy quyển sách cũ xưa. Tôi thấy việc nhân loại lập ra các viện nghiên cứu sách xưa đúng là phí phạm một cách ghê gớm. Internet đâu có sách gì liên quan đến ba quyển sách cổ xưa đâu? Mấy cái đó toàn nói chuyện hăm dọa, hứa hẹn. Ngày xưa, người ta dùng nó để tập hợp lực lượng nhằm chống lại một thế lực khác. Xã hội chưa có luật pháp nên người ta mới đặt ra một số quy định cho tập đoàn đó để tập trung lực lượng lại. 

Ví dụ như thế này, quý vị cứ nghiên cứu thử quyển sách của phật giáo thôi. Sách nói có một ông Phật Thích Ca ra đời và ông này lấy sự bình đẳng, lấy khoa học làm chính. Ngay như điểm đó đã hoàn toàn không có trong kinh sách rồi. Thứ nhất phải xem ai là người có khả năng để soạn ra những quyển sách này ? Phải là những người biết chữ thì mới soạn ra được chứ ! Nhưng những người biết chữ từ thời xa xưa của Ấn độ thì đương nhiên là những người thuộc giai cấp trên. Mà gốc của Ấn độ là gốc sống bằng giai cấp, mãi đến giờ này quan hệ xã hội của Ấn độ vẫn là giai cấp. Vì thế những người biết chữ không thuộc giai cấp bần cùng nhưng họ nắm hết quyền lực, chưa làm bá chủ trong giai cấp của họ nên họ tách ra họ viết câu chuyện này để xây dựng lực lượng. Bởi vì người đọc và người thực hành theo quyển sách này thì đều là nô lệ hết. Khi tôi đọc quyển sách này, tôi có cảm giác là người thống trị viết cho người đọc và người đọc nếu không phải nô lệ thì cũng phải trở thành nô lệ. Còn người nô lệ đọc cái này thì cảm thấy yên lòng, không muốn tiến lên nữa, chấp nhận thân phận nô lệ của mình, kể cả phụ nữ. Vậy thì, người biên tập sách này, bản chất của họ, gốc gác của họ, đầu óc kinh nghiệm của họ là kẻ thống trị, là tầng lớp thống trị. Cho nên họ viết ra sặc mùi thống trị và sặc mùi nô lệ nhưng ở cái cách thánh hóa vấn đề đi thôi. Do vậy cái gọi là tín đồ là những kẻ nô lệ thôi, còn đại diện cho thần linh, thần quyền là những người cai trị. Vậy thì mối quan hệ này rõ ràng là mối quan hệ của kẻ thống trị và kẻ bị trị. Người bị trị đem hết tài sản và tâm hồn của mình ra cung phụng cho kẻ thống trị. Kẻ thống trị dù ngu dốt gấp mấy mà ngồi được vào cái ghế thống trị thì vẫn thống trị, ăn trên ngồi trước.

5. Nếu quý vị có đầu óc khoa học, quý vị đọc lại hết tất cả những sách xưa đi sẽ thấy cái này. Nó thể hiện sự thống trị và bị trị. Đồng thời thể hiện lực lượng này chống lực lượng kia, có kẻ đi theo, có kẻ làm chủ, có kẻ làm tớ để đi theo chống lại thế lực khác. Đơn giản chỉ có vậy thôi! Quý vị đọc kỹ đi, các vị là nhà nghiên cứu đó coi lại xem tôi nói có đúng không? Đừng có thấy thần linh gì trong đó hết, chỉ cần lấy một tính chất đó để nghiên cứu thì sẽ thấy tất cả. 

Có kẻ dốt, có kẻ nô lệ nào mà biên tập được sách đó đâu? Khi người ta biên tập thì làm sao người ta thoát ra khỏi kinh nghiệm của người ta được? Người ta phải ở trong kinh nghiệm đó mà biên tập. Dĩ nhiên cũng có một số câu chuyện giá trị nếu chúng ta biết sử dụng, nhưng tôi chỉ nói một góc độ mà ít khi quý vị để ý tới đó là đa số tín đồ chính thống là nô lệ, học phương pháp nô lệ, thực hiện tính cách nô lệ. 

Không có gì để phải sợ cả, ngay như trong hàng ngũ chính trị trên toàn thế giới : anh trị nước mà anh độc tài hay anh nối dòng nối họ sao đó thì cuối cùng vẫn có những cuộc cách mạng xảy ra. Chỉ có những loại sách tín ngưỡng là khéo léo mà cuối cùng kẻ nô lệ chấp nhận tinh thần nô lệ. Nhưng tín đồ châu Âu da trắng thì khác, ít khi nào chấp nhận tinh thần nô lệ lắm mà họ đứng lên khai phá, sửa lại và làm những cuộc cách mạng đời sống tâm linh. Chỉ châu Á mình không có thôi chứ còn châu Âu thì rất là mạnh bạo. 

Như vừa rồi Duy Minh có bảo bên Đan Mạch vừa treo bảng bán 300 nhà thờ. Không phải nghe nói bán nhà thờ là bên phật giáo sẽ mạnh lên đâu. Đừng có nghĩ như vậy. Đến cái lúc mà con người nhận ra rằng, vai trò đó sự thật không còn tác dụng nữa. Con người ta thông minh, không có ngu mà làm nô lệ cho anh nữa. Người ta vẫn giữ đức tin trong tâm hồn, trong tim, người ta vẫn cầu nguyện thượng đế, cầu nguyện phật, cầu nguyện những vị mà người ta tôn thờ chứ không cần tới nhà thờ, chùa chiềng, cũng chả cần kinh sách làm chi nữa. Chỉ cần cầu nguyện là đủ rồi. Người ta buồn, người ta khó khăn thì kêu Phật, Chúa là được rồi. Người ta thành công thì cảm ơn Phật nếu anh theo Phật, cảm ơn Chúa nếu anh theo Chúa, đã cho con thành công. Thực hiện đức tin như vậy là đủ rồi. Mà tối cao của đức tin chính là đạo đức. Cho nên đâu cần phải đến nhà chùa hay nhà thờ gì nữa đâu. 

Con người ta càng ngày càng thông minh, nên người ta treo bảng bán nhà thờ là vì vậy. Bên Mỹ cũng có nhiều chùa bị ngân hàng thu hồi. Một cái chùa xài không biết bao nhiêu là tiền mỗi tháng, hàng trăm ngàn đô la trong khi dân chúng thì nghèo, không có việc làm thì lấy đâu ra tiền mà đóng góp. 

6. Đâu phải đến chùa là có Phật ?! Phật trong tâm hồn, trong đầu óc chúng ta. Phật ở trên ngọn cây, ngọn cỏ. Phật ở ngoài bờ suối, bụi tre. Phật có trên từng mảnh đất. Chắc chắn 100% không có Phật nào ở trong chùa. Chả có chùa nào mà phật vô cả, 1000% là không có ! Phật chỉ ở ngoài bờ, ngoài bụi, ngoài cây, ngoài cối. Phật ở trong đại dương, trong gió, trong mấy, trong ánh sáng mặt trời, trong không khí, trong lòng người, trong từng cái hoa, trong từng cái lá… Không có ông Phật nào khờ dại mà vào trong chùa ở bao giờ! Ở trong đó nội khói không đã ngợp mà chết rồi. Rồi nó tụng ê a suốt ngày thì cũng nhức đầu chết rồi. Không có ông Phật nào vào ở trong chùa cả ! Chắc chắn là như vậy ! 

Quý vị ra ngoài bờ ruộng kêu, Phật ứng liền. Quý vị vô bờ núi kêu, Phật ứng liền. Quý vị ra bụi hoa kêu, Phật ứng liền… Nhưng quý vị tới mấy chỗ kia là không có. Phật ở cùng khắp các nơi, Chúa cũng ở cùng khắp các nơi, mà nơi Phật hay Chúa ngự là nơi rộng thoáng mát, lúc nào cũng giống như mùa xuân. 

Cho nên ngài Giê-su nói rất là đúng: Cha ta không bao giờ chui vô đây đâu. Chỉ có phật giáo là chưa có ai nói. Nếu tôi đóng vai con của đức Thích Ca, tôi làm La Hầu La đó thì tôi sẽ đi vòng vòng tới mấy cái chùa tôi bảo : Tôi nói cho mấy ông biết, cha ta không có ở mấy chỗ này đâu à !  Cha ta ngày xưa khi còn sinh sống, cha ta hay dẫn đệ tử đi đây đi đó ngoài trời đất bao la, cả cung vàng điện ngọc cha ta không thèm ở nói chi chỗ này. Mấy ông làm mấy ông ở thôi, rồi kéo bà con dòng họ vào ở chứ cha ta không có trong này đâu. Ta là La Hầu La, con của đức Thích Ca đây! 

Trích Master Duy Tuệ - Ánh Sáng Kỳ Diệu và Bóng Tối Điên Đảo trong đầu óc – 26.4.2011 (Tên bài trích đăng do BBT tạm đặt)

133 - Hãy suy tư về điều này!


Tạo hoá đã sản sinh ra vô vàn vật thể,
Một con bướm, một cái hoa, một con người,
Rất cân đối và hài hoà.
Mọi thứ mà con người học được là từ tạo hoá.
Các nhà bác học cũng là những người có được tri thức từ tạo hoá.

Tạo hoá hình như rất thông minh, rất lo-gic, rất hoàn chỉnh,
Tạo hoá làm ra trùng trùng điêp điệp vật thể hữu hình và vô hình,
Nhưng dường như chẳng có gì thừa hay thiếu.
Nhưng đến lượt con người nhìn vào,
Thì thấy thừa và thiếu ngay!
Giỏi và uyên thâm như tạo hoá,
Nhưng con người không thể nói tạo hoá là nhà bác học hay khoa học được.

Tâm của các vị Phật cũng vậy,
Cũng giống tạo hoá, hay như tâm của tạo hoá.
Tâm Phật cũng mầu nhiệm và huyền bí như tạo hoá vậy.
Con người cũng không thể luận bàn hay phong tước gì cho TÂM PHẬT được.

Điều lý thú là,
Chính mỗi con người đều có tâm này!
Hãy suy tư về điều này.

Trích Master Duy Tuệ - Tâm Phật (Thuyết giảng cho Phật Tử Norway - Madison, 10/7/2004)

052 - Con tim cũng có trí tuệ


Đã nhiều lần thầy nhận ra rằng con tim cũng có trí tuệ, nhưng không phải trí tuệ của sự suy nghĩ, mà là thứ trí tuệ trực giác và thầy chỉ tin vào con tim thôi. Đó là kinh nghiệm tâm linh của thầy. Nếu đứng trên chiều dài của lịch sử phát triển loài người thì không có một thành tựu vật chất nào có thể tồn tại được thật dài lâu. Tri thức cũng là một dạng vật chất. Ngày thầy được chư Phật dắt theo các Ngài, ngày ấy thầy cũng giã từ tri thức và mọi suy nghĩ của thầy. Thầy cũng được Chư Phật dạy thầy rằng  chính những khổ đau mà thầy trải qua cũng bắt nguồn từ suy nghĩ. Thời gian trải nghiệm khổ đau chắc cũng tạm đủ nên các Ngài đã dắt thầy ra để về với các Ngài. Thầy còn nhớ cảm giác ngày ấy như đã vĩnh biệt thế giới nầy nhưng xác vẫn chưa thiêu. Bây giờ thầy sống trong trạng thái ấy. Có thể chẳng ích lợi cho nhiều người trong lúc nầy, nhưng chắc chắn nó cũng an ủi cho những ai có nhân duyên với trạng thái tâm ấy.


Nếu nghiên cứu lịch sử phát triển của những ý nghĩ, thì khó nói được rằng ý nghĩ nào giúp cho con người bớt khổ đau. Bởi lẽ kết quả cuối cùng của mọi ý nghĩ đều đem lại khổ đau cho chính tác giả và nhân loại. Con đường của thầy đi là con đường từ chối mọi thành tựu cho chính mình, từ chối mọi suy nghĩ và suy luận.

Trích bài Con tim cũng có trí tuệ - Master Duy Tuệ - 2003

047 - Thờ Phụng

"Chỉ có tình thương và sự thông cảm là có thật
Còn Các Đấng mình thờ là để giúp cho tình thương hiện hữu và phát triển
Giúp cho cảm xúc yêu thương chân tình nhuộm xanh cuộc sống này."

Trích : Cư Xử Trong Gia Đình - Master Duy Tuệ nói với Hiền giả Phật Tuệ - Na Uy - 24/3/2009

045 - Đặc điểm một vị Phật

  1. Đặc điểm thứ nhất của một vị Phật là làm việc và an trú trong công việc, tỉnh thức.
  2. Đặc điểm thứ hai của một vị Phật là an trú trong việc làm và tỉnh thức hiện hữu trong việc làm.
  3. Đặc điểm thứ ba của một vị Phật là làm việc luôn luôn có thứ tự ưu tiên, cái gì cần giải quyết ngay thì giải quyết trước, cái gì cần giải quyết thứ hai thì giải quyết liền sau cái trước. Tức là giải quyết công việc theo trình tự, thứ lớp.
  4. Đặc điểm bổ sung : luôn luôn chú ý, tỉnh táo với con ngựa vô minh của bản ngã.
(Trích sách Sống Minh Triết, Đạo sư Duy Tuệ, NXB VH-TT, 2009)
-Duy Tuệ -

027 - Xuất gia

"Này con,

Sau này khi nào con chuyển tâm tu hành

Con phải hiểu cặn kẽ lời ta dạy

Cạo râu tóc khoát áo cà sa

Không phải từ đây ta với đời cách biệt

Không phải từ đây ta là “kẻ tu hành”

Không phải từ đây ta khác với người

Không phải từ đây ta hay hơn người đời

Không phải người đời có thể hay hơn ta

Không phải từ đây ta sống với câu kinh tiếng kệ

Không phải từ đây ta gắn liền với tiếng mõ hồi chuông

Không phải từ đây ta làm lại cuộc đời

Không phải từ đây ta sống với mái chùa êm ả

Không phải từ đây ta sống với núi rừng thanh vắng

Không phải từ đây ta hãnh diện với đời

Cũng không phải từ đây ta lấn cấn với đời

Không phải từ đây ta mặc cảm với đời

Không phải từ đây ta trắng tay hay thành Tiên thành Phật

Không phải từ đây ta học những điều thế gian không học nổi

Vân vân và vân vân…

Mà sự thật là :

Từ nay ta tập sống đúng bản chất thật của cuộc đời

Ta nhìn thân tướng đầu không tóc, áo cà sa

Có nghĩa là cuộc đời là vô thường

Thật tướng là vô tướng

Thật ngã là vô ngã

Cuộc đời là bất toại nguyện

Khổ đau là lẽ đương nhiên

Tại nơi đây bình minh xuất hiện

Tại nơi đây an bình hiển lộ

Tại nơi đây sanh diệt không còn

Tại nơi đây không một ý niệm nào khởi dậy

Tại nơi đây vũ trụ chính là ta, ta là vũ trụ

Ví như ta là một giọt nước biển được trả về biển cả

Đừng lo rằng không chủ thể hưởng diệu tâm này

Vì còn niệm có chủ thể hưởng diệu tâm

Là còn trở lại con đường đau khổ

Hãy khởi niệm tâm hoà tan trong ánh sáng của vũ trụ

Ấy là hạnh phúc vĩnh hằng."

Duy Tuệ

025 - Thấy nghe chân thật

"Trong cuộc sống con thường “thấy” và “nghe”
Từ đó giúp cho con sự hiểu biết hay là kiến thức
Toàn tâm và thân sẽ ứng xử theo kiến thức này để đạt một sự thoả mãn
Quá trình đó gọi là cuộc sống
Vậy cuộc sống có hạnh phúc hay không sẽ phụ thuộc
vào việc thấy và nghe đúng thực chất hay không
Khi thấy và nghe sự gì, việc gì con cần chú ý cái nghe nhìn
dễ bị lệch theo thiên kiến của mình
Và chú ý rằng ít khi nào người ta nghe
và thấy đúng thực chất về đối tượng thấy nghe
Vậy như thế nào là thấy và nghe chân thật?
Bản chất của các hiện tượng hay hình tướng
Không phụ thuộc vào tâm thức hay kiến thức con người.
Con người áp đặt lên nó những tâm thức hay kiến thức của mình
Để thiết lập các mối quan hệ với chúng.
Trong khi đó:
Tâm con người có trạng thái hoàn toàn phi kiến thức
Thuần tuý trong sáng là sự biết tự nhiên
Trạng thái trong sáng này y hệt như bản chất thật
của các hiện tượng, tánh không của chúng
Nếu để tính biết thuần tuý, tự nhiên phi tâm thức này
Tiếp xúc với bản chất thật của các hình tướng
Con sẽ giữ một cái nhìn trong sáng, bình đẳng
Đây chính là cái nhìn chân thật
Về cái nghe cũng tương tự như thế
Đây là trí chân thật
Nhưng mặt khác
Khi cần phải xử sự điều gì có liên quan đến các hiện tượng và hình tướng đó
Con lại sử dụng trí phân biệt một cách thiện xảo
Trí này có thể gọi là quyền biến trí
Tại sao gọi là quyền biến trí hay trí phân biệt thiện xảo?
Vì ta dùng trí này cư xử tự tại và không bị các hình tướng đó trói buộc ta theo nó.
Thấy và cư xử như vậy
Sẽ tránh được lòng tham dục, sân hận hay si mê
Và như vậy sẽ tránh khổ đau phiền não
Để sống được với cõi hạnh phúc chân thật hiện tiền
Lời ta nói được trên giấy này không phải là cảnh giới chân thật
Nó là phương tiện con nương theo để khám phá cảnh giới chân thật
Con phải thực hiện thường xuyên theo sự hướng dẫn này
Con sẽ tự mình trải qua những cảnh giới lạ lùng tuyệt diệu
Con sẽ tự mình chứng nhận sự hoàn hảo của tâm
Con sẽ chứng nhận rằng cái tâm là một bộ máy tự động khổng lồ.
Tự động vận hành hoàn chỉnh mà không phụ thuộc
vào sự mưu tính, suy nghĩ của ý căn
Khi ý thức được điều này
Và tập thực hành mỗi lúc mỗi nơi cho thuần thục
Con sẽ làm chủ được tâm trí
Giờ đây
Khi làm chủ được tâm trí rồi
Con thử hình dung một thí dụ
Con ngồi một nơi
Phóng tâm trí ra các cõi các nơi mà con muốn
Tâm trí con nhiều thứ khác nhau
Mỗi thứ là một màu sắc
Trong mỗi màu sắc ánh sáng
Quyện lòng từ bi trong ấy
Tâm trí có thể ra đi vô cùng vô tận
Xong việc rồi
Con có thể điều động nó trở về
Đảnh lễ trước mặt con
Sau đó nó chui trở lại
Trong bộ máy tâm tự động khổng lồ
Mà con thì vẫn y nhiên như trước
Còn nếu con không làm chủ được
Những tâm trí phóng ra
Nó gặp những cảnh này cảnh nọ
Nó không chịu về mà lại lôi kéo con theo
Là lúc con vào khổ đau phiền não
Về cái nghe qua tai
Ngửi mùi qua lỗ mũi
Nếm vị qua lưỡi
Cảm giác qua thân
Con cũng thường quán chiếu như vậy
Và đưa tâm thực hành như cái thấy
Sẽ có cùng kết quả như trên
Hằng ngày con có thì giờ quán tưởng lời ta dạy
Suy gẫm nhiều lần và thực hành
Rồi lại thiền quán về kinh nghiệm thực hành
Cứ thực hành thường xuyên như vậy
Cho đến khi nó thay thế hoàn toàn cách sống mê lầm từ trước
Đến đây gọi là sống với Tâm Giác Ngộ, Tâm Giải Thoát
Giờ đây con và thánh hiền hoàn toàn một
Đây là chân thật sống, chân thật trí tuệ, chân thật hạnh phúc.
Tại đây và trở đi
Lòng Từ Bi Hỉ Xả với muôn loài, muôn vật chính là tâm viên mãn của con.
Cố gắng lên, chắc chắn sẽ đạt
Trước khi con từ giã xác thân
Để vào cõi hạnh phúc vĩnh hằng."


Duy Tuệ

013 - Bí quyết diệt khổ

"Tất cả các tôn giáo trên hành tinh nầy đều cùng làm một việc giống nhau là giúp cho tín đồ của mình học hiểu và thực hành những lời dạy của Ðấng Giáo chủ mình để diệt khổ đau trong lúc sống và sẽ được về sống ở cõi nước cực lạc tuyệt đối do Ðấng Giáo chủ của mình hướng dẫn. Con đường mà các Ngài đưa ra, thông qua kinh điển ghi lại cũng có kẻ khen người chê, cũng có kẻ theo người bỏ, nhưng dù sao đi nữa số người sống có tôn giáo ngày càng phát triển, và những người sống được nhờ tôn giáo cũng không phải là ít. Vậy tôn giáo cũng có vai trò vị trí nhất định làm nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của con người nói chung và đóng góp vào sự tiến bộ của nhân loại thực sự. Bên cạnh phần tích cực cũng không ít xuất hiện những mặt tiêu cực như mọi người đều biết. Chúng ta cũng phải chấp nhận điều nầy vì hai mặt không gỡ ra được, mặt tích cực cũng từ tiêu cực mà có và mặt tiêu cực cũng từ tích cực mà ra.

Người có trí phải biết khai thác kho tàng kinh nghiệm và trí tuệ của các bậc Thánh nhân để lợi mình, lợi người, lợi cho xã hội cho thế giới nói chung.

Hôm nay chúng tôi dựa lời Ðức Phật Thích Ca dạy qua kinh Phật giáo để giúp cho quý vị nhận ra ngay chính trong chúng ta có sẵn điều kỳ diệu giúp ta vượt qua khổ đau. Cũng từ sự khám phá thực tại trong chính chúng ta nầy mà chúng ta cũng có thể trở thành người chứng minh những vấn đề cốt lõi rất thực tế trong kinh Phật thực sự có giá trị thực tiễn lớn lao.
Trong tâm chúng ta có đau khổ, có thèm khát, có tính bản năng súc vật, có thương yêu, có suy nghĩ, tính toán thiệt hơn, có tham lam ước muốn, có lòng giúp đỡ, có ganh ghét giận hờn, có hiền hòa và nhìn xa thấy rộng, có tinh thần học hỏi Thánh nhân, có tinh thần phấn đấu sống cao thượng theo Thánh nhân, có ý chí từ bỏ tham dục thực hành đời sống phạm hạnh xa lìa sự ràng buộc của cuộc đời, xa lìa sự lo lắng cơm ăn áo mặt, có tinh thần đem đức hạnh Thánh nhân vào cuộc đời để gánh vác bớt đau khổ của chúng sanh, cũng có cách sống vô tư vô sở hữu hoàn toàn phát lòng thương mình và thương chúng sanh vô hại. Những trạng thái tâm nầy chúng ta ai cũng có sẵn, phải vậy không?

Trong các trạng thái tâm ấy chúng ta sử dụng trạng thái tâm vô sở hữu hoàn toàn để khống chế các loại tâm khác, tâm vô sở hữu chính lù Tâm Phật. Ðây là một thực tập tâm linh vĩ đại. Ðây là việc đáng làm nhất trong đời. Tại sao? Tại vì nó có các công đức sau đây:

Diệt khổ đau một cách tức khắc

Thông minh một cách lạ lùng

Ðại định tự nhiên xuất hiện

Trí tuệ luôn luôn sáng tạo

Ứng phó nhẹ nhàng nhanh nhẹn như điện chớp

Thông cảm với tất cả lỗi lầm của người

Nhẫn nhục với những việc khó nhẫn

Thương người với tâm tự do tuyệt đối

Làm nhiều việc tốt đẹp cho cộng đồng không mưu lợi gì

Lòng luôn cầu sự tốt lành cho người

Tôn trọng những quy định quy ước và quyền lợi cộng đồng

nhưng lòng vẫn thanh thản và tự do tuyệt đối

Lòng không bị thời gian không gian khống chế bức nghẹt

Lòng không bị quá khứ buộc ràng không bị tương lai thúc giục

Bao nhiêu nghiệp chướng sâu dày trong tâm tức khắc đốt sạch

Nhân quả bao đời không còn nơi nương tựa

Nhìn người nhìn vật nhìn thấy rõ tâm linh

Nhìn xuyên suốt mọi thế giới tâm của loài người

Tự biết và tự quyết định đời sau

Ðúng như trong kinh A-Di- Ðà đã dạy:

Phật A-Di-Ðà có:

Vô lượng quang

Vô lượng thọ

Vô lượng công đức

Nội dung công đức trên đã hàm chứa vô lượng quang, vô lượng thọ và vô lượng công đức.
Như vậy hàng ngày chúng ta phải theo dõi các trạng thái tâm đã bộc lộ như thế nào để chúng ta có biện pháp cảnh giác với tâm thấp kém và nâng đỡ trạng thái Tâm Phật. Nên đặt từng trạng thái tâm cho mỗi một loại hạt đậu khác nhau. Ví dụ Tâm Phật là đậu trắng chẳng hạn, trong ngày có mấy lần Tâm Phật xuất hiện sẽ được ghi nhớ bằng bấy nhiêu hạt đậu trắng,những trạng thái tâm khác thì dung các loại đậu màu để diễn tả. Cuối ngày tổng kết để biết kết quả hoạt động của các tâm. Ban đầu có thể sẽ không có những hạt đậu trắng nào lại có rất nhiều hạt đậu màu. Ban đừng sợ. Nếu thực sự bạn đã đếm được bao nhiêu hạt đậu màu bạn nên biết rằng bạn đã vượt qua nhiều kiếp khổ đau và những ký ức (bạn thường nghe tên gọi khác là nghiệp) bắt đầu tan rã. Sau một thời gian không lâu, trong vòng một tháng đổi lại bạn sẽ thấy xuất hiện viên đậu trắng đầu tiên! Viên đậu này đã tạo ra một chấn động mãnh liệt có giá trị phá tung hàng hàng lớp lớp những sợi dây đau khổ luân hồi sinh tử trong bao nhiêu kiếp trói buộc bạn!

Từ một viên đậu trắng đầu tiên này chính bạn sẽ chứng nghiệm được những công đức nêu trên, chúng sẽ xuất hiện dần dần. Các trạng thái tâm khác sẽ bắt đầu chấn động, một trật tự mới trong tâm sẽ được bộc lộ. Dần dần bạn bớt suy nghĩ, bớt phóng tâm ra ngoài và tăng cường theo dõi tâm của mình nhiều hơn. Cái nhìn của bạn với bên ngoài bắt đầu thay đổi kỳ lạ, bạn sẽ hiểu chúng nhiều góc độ khác nhau, sẽ khám phá nhiều điều mà trước đây bạn chưa biết đến.
Tình cảm của bạn cũng thay đổi, thương yêu cho ra mà không thu về. Sự thay đổi chất lượng nầy xuất phát từ tác dụng của thái độ sử dụng nguồn tâm vô sở hữu tuyệt đối. "
- Master Duy Tuệ -

012 - Vẻ Đẹp Cách Sống Trung Đạo

"Tôi đến thành phố Madison đúng vào mùa thu
Và ở đó cũng đã hai mùa thu.

Ở đây,
Mùa thu California không đẹp như ở đó,

Tôi nhớ đến một tín đồ Phật Giáo,
Tên tâm linh là Phúc Tuệ,
Định cư tại Madison một phần tư thế kỷ.
Tôi có dịp quan sát Phúc Tuệ hơn một năm.
Người con Phật ấy năm nay độ chừng tuổi sáu mươi,
Có hai người con trai đã lớn.
Một người là bác sĩ, nguời kia là nhân viên một công ty.
Hai vợ chồng và hai con luôn bên nhau từ ở quê nhà.
Từ tinh thần, tình cảm gia đình và vật chất,
Họ như vẹn toàn,
Đủ ăn, đủ ở, đủ thương yêu,
Đủ sự giúp đỡ kẻ cần giúp đỡ,
Và thường an tâm.
Thật là hiếm thấy.
Tôi có thể khẳng định điều nầy:
Tất cả những bậc Đại Giác Ngộ, Đại Trí Tuệ,
Trước khi từ bỏ xác thân,
Đều ca ngợi rằng,
Hạnh phúc chân thật,
Hay sự nghiệp chân thật,
Hay thành tựu chân thật và cao đẹp của mỗi cá nhân
Chính là sự bình yên của tâm hồn.

Người con, người học trò chân chính của Phật, Phúc Tuệ
Đến lúc nầy đã giữ được điều ấy,
Và đang xây dựng một Quốc Độ Phật cho cuối đời mình.

Tôi quan sát và nhận ra rằng,
Người ấy đã sống đúng con đường Trung Đạo,
Con đường mà Phật Thích Ca khám phá rồi thành Đạo.

Con người ấy sống hiền lành nhưng trí tuệ,
Biết dùng trí tuệ Trung Đạo để điều hòa cuộc sống
Trong gia đình, nơi làm việc và bằng hữu.
Giải quyết mọi việc trong giao tiếp,
Rất ôn hòa và bình đẳng,
Nhưng cũng rất giữ nguyên tắc minh bạch trong việc làm.

Sống thực sự biết đủ,
Biết vừa lòng với những gì trong tầm tay,
Không tham tưởng trong suy nghĩ và hoạch định theo tham vọng;
Thường phát sinh trí tuệ từ thực tại cuộc sống.

Chuẩn bị cuộc sống thật giản đơn cho thời kỳ hưu trí;
Không luyến tiếc, ân hận,
Ray rức, oán hờn hay thành kiến gì với quá khứ;
Không có gì để sám hối hay cầu xin;
Thật sự sống trọn vẹn với những gì đang có.

Về phước thiện,
Phúc Tuệ là người con của Phật ưa thích giúp người;
Đã gần hai mươi năm thường xuyên cho học bổng các học sinh nghèo nơi quê nhà;
Làm được việc gì để giúp người dù là rất nhỏ hay khó khăn,
Cũng toàn tâm, toàn trí mà làm.

Người Phật Tử ấy rất sâu sắc và tế nhị với chung quanh mình;
Lắng nghe và lắng nhìn những điều bất ổn của người,
Để chia sẻ niềm vui cho họ, dù là nhỏ nhất.

Khi tôi quan sát cung cách cư xử của Phúc Tuệ
Với nột người đồng đạo cô đơn và già nua.
Người đồng đạo ấy,
Tuổi gần tám mươi,
Sống cảnh gà trống nuôi con
Từ khi đứa con trai lên hai tuổi,
Mà nay cháu ấy đã sắp học xong hai bằng cao học.

Người bạn già đồng đạo ấy,
Một hôm đang dạy tôi lái xe và nói rằng :

-“Thưa Thầy, Phúc Tuệ làm việc đâu ra đó,
Không biết lớn tiếng với ai,
Rất nguyên tắc trong công việc,
Và vừa nguyên tắc vừa tình cảm trong cư xử.
Trong hơn hai mươi năm qua,
Tôi tự coi anh ấy như là một Bồ Tát,
Đôi khi tôi tự coi anh ấy,
Như là một tu sĩ đạo cao đức trọng
Vượt lên trên cách tu hình thức;
Tôi thật sự kính trọng.”

Không phải chỉ có người bạn già đồng đạo nầy nói vậy.
Một số người Việt và Mỹ trong thành phố ấy mà tôi quen,
Họ cũng chia sẻ những nhận xét tương tư như vậy.

Đến đây làm tôi nhớ lại,
Những lần thăm viếng Vị Vua Sãi Thái Lan và Lào,
Khi trao đổi về cách truyền giáo,
Các Ngài cũng nói rằng:

“Cách truyền những lời dạy của Đức Phật tốt nhất
Là cách sống trung đạo của người tu sĩ Phật Giáo
Gây ảnh hưởng tốt cho những người chung quanh.”

Có lẽ,
Cách sống Trung Đạo tự nhiên như Đạo Hữu Phúc Tuệ,
Người đã được hầu hết trong những mối quan hệ,
Từ gia đình, bà con, bạn hữu và nơi làm việc vừa mến vừa trọng
Là một người truyền thông điệp Trung Đạo của Đức Phật thật sống động;
Thật hiệu quả, mà những ai đã từng cùng với không thể quên được.

Tôi muốn giới thiệu tấm gương nầy,
Đến những đệ tử gần xa thấy rằng,
Trung Đạo là con đường có thật,
Con đường của người ngộ đạo.

Và qua đây,
Thầy nhắc nhở các đệ tử rằng,
Không phải người ngộ đạo là người xuất gia tu hành từ nhỏ,
Không phải là người biết thực hành các khóa lễ trước bàn thờ,
Không phải là người có chiếc áo của “người tu”.
Đừng bị hai chữ “người tu”
Dẫn dắt mình vào cõi viển vông trái luật hai mặt của hành tinh nầy
Đừng nghĩ rằng ai đó có nhiều người đến lễ lạy mà cho rằng ngộ đạo.
Đừng lấy sự tạm thành tựu về vật chất mà cho rằng người ấy ngộ đạo.

Người ngộ đạo sống giản đơn, không hình thức cầu kỳ;
Người từ chối sự trọng vọng hay tôn vinh của người đời đối với họ;
Người không có tâm phân biệt cao thấp trọng khinh;
Người không tự cho mình là phước đức cao dày;
Người thản nhiên sống đúng luật hai mặt của thế giới nầy;
Người không màn đến danh vọng;
Người thoát ly khỏi mọi chỗ dựa, kể cả Thánh Hiền;
Người sống cùng trời đất là một;
Người có trái tim nhạy cảm với nổi đau của con người, động vật và cây cỏ;
Người luôn giữ sự bình an cho tâm hồn.

Người ngộ đạo hiểu rằng,
Toàn bộ sự sống tồn tại của hành tinh nầy
Là sự tồn tại cùng một lúc hai mặt đối nghịch.
Không ai chối bỏ được.
Chỉ khác nhau cách thể hiện mà thôi:
Một sự thể hiện bình thường tự nhiên theo luật tự nhiên;
Và mặc khác là,
Sự thể hiện gượng gạo méo mó và bệnh hoạn.

Chính sự tưởng tượng quá đáng của đa số tín đồ,
Đã đẩy nhiều tu sĩ vào đường khó xử.
Các Đệ Tử hãy bản lãnh mà sống tự nhiên;
Sự ngộ đạo là thuộc về cõi tâm huyền diệu;
Không thuộc về hình thức.
Hoa sen thanh cao khoe sắc trong bùn,
Đó là ý nghĩa thực sự của hình ảnh giải thoát."
- Master Duy Tuệ -

011 - Cõi Thiêng Liêng Và Chiếc Chìa Khóa

"Các đệ tử học đạo cần lưu ý,
Thầy nhắc lại vài điều quan trọng.

Đức Phật Thích Ca thương xót chúng sanh
Sống trong vô minh đau khổ tinh thần.
Ngài dùng nhiều hình ảnh, biểu tượng, và ngôn ngữ
Để thuyết giảng điều không thể thuyết được,
Nhằm trợ duyên cho con người nhận ra điều không thể nhận được.

Điều ấy là thực tại thiêng liêng rất linh thiêng,
Giải toả toàn bộ khổ đau về tinh thần cho con người.
Thực tại ấy là kho báu vô giá xài muôn kiếp vẫn còn nguyên vẹn,
Thực tại ấy không có trong bất cứ kinh điển nào!

Thực tại ấy không có tên gọi
Do vậy muốn mượn tạm từ gì để gọi cũng được
Miễn là tâm ta tan biến vào trong ấy
Mà không dính dáng gì đến chữ ta dùng.

Khi đọc vài quyển kinh thuộc bất cứ truyền thống nào
Nguyên Thuỷ, Đại Thừa, hay của Phật Giáo Mật Tông.
Các vị không cần phải đọc nhiều
Cốt yếu là phải nắm được chiếc chìa khoá bí mật trong ấy.
Tất cả các Kinh chỉ có một chìa khoá mà thôi
Không phải mỗi kinh mỗi chìa khoá.

Chiếc chìa khoá ấy không phải dùng để vào “tánh không”
Cũng không phải dùng để vào “Đạo”.
Sau này khi tâm đồng với cõi linh thiêng ấy
Chiếc chìa khoá ấy sẽ giúp quý vị hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh thiêng liêng của mình.

Đức Phật Thích Ca đã tìm ra chiếc chìa khoá ấy
Ngài đã dùng trọn đời để cứu chúng sanh.
Khi nào tâm các bạn là một với cõi thiêng liêng ấy
Mới dùng được chiếc chìa khoá công đức của Chư Phật."

- Master Duy Tuệ -

008 - Có Hai Sự Hiểu Biết

Đạo hữu Minh Tuệ ở Na-Uy hỏi qua điện thoại rằng:
“Thưa thầy! Con có người bạn gái ở Việt Nam sắp đi lấy chồng.
Chúng con phải chia tay nhau trong thương nhớ và khổ đau.
Xin thầy cho con hiểu cách vượt qua khổ đau.
Con là một phật tử tin Phật, tin Thầy,
Thầy sẽ từ bi dạy bảo chánh pháp cho con.
Nhưng con xin sám hối Thầy!
Những lời Thầy sắp dạy,
Có thống nhất trong các Tông phái Phật giáo không?
Hoặc những lời Thầy dạy thuộc tinh thần của Tông Phái Phật giáo nào?
A-Di-Đà-Phật”.

Này Phật tử!
Các Tông phái Phật giáo hợp lại như một vườn hoa
Hướng về cuộc đời và lý tưởng của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni.
Chúng ta không thể phân định rằng,
Hoa này nhất hoa kia nhì,
Hoa này đắt, hoa kia rẻ như người đời quy ước giá.
Tất cả những con người hợp thành vườn hoa đó,
Đều hướng về trí tuệ của đức Phật:

Trí tuệ giải thoát và tâm vô nhiễm.
Đây như là thứ vũ khí chắc bền như kim cương để chặt đứt mọi đau khổ của tâm.

Tông Phái nào cũng chỉ có một mục tiêu ấy mà thôi
Nhưng tuỳ theo khuynh hướng tu mà biến hiện thành vườn hoa đẹp.

Tâm vô nhiễm có nghĩa là đừng để các thứ tri thức và cảm xúc ảnh hưởng đến bản chất trong sáng sẵn của tâm.

Còn trí tuệ giải thoát là sự hiểu biết tính chất thực của sự vật hay hiện tượng.
Bây giờ Thầy sẽ đi vào cụ thể, lấy sự việc của con làm ví dụ.

Ở tuổi thanh niên, con có bạn gái là chuyện bình thường.
Con phải biết tách mình ra khỏi chuyện tình để quan sát chính nó.

Con sẽ thấy cần có hai sự hiểu biết:
- Con phải có tri thức hay sự hiểu biết về tình yêu.
Trong tri thức ấy bao gồm cả nghệ thuật.
Cụ thể như,
Phải biết cách tìm hiểu người yêu,
Biết cách làm cho người yêu cảm thấy tự hào khi yêu con.
Biết cách yêu với tính chất văn hoá dân tộc và văn minh nhân loại.
Con không thể đánh mất dân tộc tính trong tình yêu.
Vì như vậy con sẽ không hạnh phúc,
Hoặc sẽ đau khổ về sau.
Con phải biết cách nâng tình yêu lên vị trí thanh cao của tinh thần.
Con phải biết giới hạn các tham muốn, nghĩa là không được thoả mãn các ham muốn.
Có như vậy con mới nhận ra vẻ đẹp của tình yêu.
Đó chỉ là một phần nhỏ tri thức hay sự hiểu biết trong tình yêu.
Ngoài ra,
Con cần phải có loại tri thức thứ hai.
Đó là tri thức giải thoát trong tình yêu hay sự hiểu biết bản chất thật của tình yêu.
Con dùng phương pháp thiền quán về tình yêu của con với người bạn gái,
Và tình yêu của người bạn gái dành cho con.
Hai tình cảm ấy nhập một lại tạm gọi là “tình yêu của chúng con”.
Tình yêu này thầy tạm đặt tên là Y.

Bây giờ con cần khảo sát về Y.
Y từ đâu đến?
Đến từ lúc nào?
Y sẽ về đâu?
Lúc đầu không có,
Bây giờ có đến, tất phải có đi.

Con cố gắng nhận biết được rằng,
Y không từ đâu đến
Và Y cũng sẽ chẵng có chỗ để đi.

Con hình dung hai cục đá cọ nhau tạo ra lửa.
Lửa trong cục đá A hay cục đá B, hay trong cả hai cục?
Nếu nói nó là như vậy, sao hai cục đa không tự bốc lửa?
Khi bốc lửa rồi, sau đó lửa biến mất.
Vậy lửa đi đâu?

Con thấy rõ rằng khi hai hòn đá có đủ duyên cọ xát lẫn nhau, lửa xuất hiện.
Khi một số điều kiện không còn hội đủ, lửa không xuất hiện.
Lửa không từ đâu đến, và cũng chẵng đi về đâu.
Đủ điều kiện, nó xuất hiện.
Thiếu điều kiện, nó không xuất hiện, chỉ vậy thôi.

Hiểu như vậy tạm gọi là hiểu bản chất của sự xuất hiện của lửa.
Y ở trên, con cũng hiểu như vậy.

Khi con có sự hiểu biết thứ hai này,
Nó sẽ giúp con không quá tin tưởng và quá vui sướng khi người yêu đến,
Cũng không quá đau khổ khi người yêu đi.
Nghĩa là, không quá tin vui khi Y xuất hiện,
Và cũng không quá đau buồn khi Y biến mất.

Thầy tạm tóm tắt như vầy:
Bất cứ việc gì,
Con cũng cần có hai sự hiểu biết hay hai tri thức:
Tri thức nhập thế hay nhập cuộc
Và tri thức xuất thế hay tri thức tự tại, tri thức giải thoát ngay trong sự việc đang nhập cuộc.
Ví dụ tri thức về ăn uống và tri thức thoát khỏi sự thèm khát về ăn uống.
Tri thức về cách sống trong gia đình và tri thức tự do khỏi sự ràng buộc của gia đình.
Tri thức chồng vợ và tri thức thoát khỏi sự ràng buộc của chồng vợ.
Tri thức về nghề nghiệp và tri tự do khỏi mọi ràng buộc của nghề nghiệp.
Tri thức về nổi danh và tri thức giải thoát ra khỏi sự ràng buộc của danh tiếng.
Tri thức về kinh tế tài chính và tri thức giải thoát ra khỏi sự nô lệ với tiền bạc.
Tri thức về các loại thành tựu và tri thức về sự giải phóng ra khỏi mọi ràng buộc của sự thành tựu.
Vân vân và vân vân.

Khi con có hai thứ tri thức ấy trên cùng một vấn đề.
Con sẽ ứng xử như vầy:
Về mặt bên ngoài,
Con tỏ ra rất am tường và thực hành xuất sắc hiểu biết chuyên môn của mình đối với sự việc mà con đang nhập vai.
Nhưng về bên trong tâm hồn,
Con thấy không có gì trên đời này cần tham luyến.
Hãy thanh thản trước mọi thứ mà người đời tôn vinh,
từ tiền, tình, danh lợi và ngay cả danh tiếng là thánh nhân.

Chúc con thường thành tựu hai thứ tri thức trên mọi phương diện của cuộc đời để lợi lạc cho con và có ích cho đời!
- Master Duy Tuệ -