"Khai mở nhận thức sâu thẳm và duy trì cảm xúc tình người thiêng liêng"

....

.

.
.

ABA Quotes

Tham khảo: TTVMPT 07 - Alexander Đại Đế (Alexander the Great)

Ông kiếm tìm sự vĩ đại trong bất kỳ việc gì mình làm. Chỉ trong vòng vài năm, ông thống trị toàn bộ thế giới tại thời điểm đó và được nhiều người coi là một vị thánh chứ không phải con người. Khi ra đi, ông để lại sau lưng một đế chế rạn vỡ, một nền tảng văn hóa Hy Lạp chung và một hoài niệm lôi cuốn loài người.



Năm 401 TCN, hoàng tử Ba Tư xuất quân với một đội quân rất lớn, khoảng 12.000 lính đánh thuê Hy Lạp tiến đánh nhà vua, anh trai mình để chiếm ngôi Hoàng đế Ba Tư. Vị hoàng tử đó đã tử thương ngay trong trận đánh lớn đầu tiên. Nhưng quân đánh thuê của ngài vẫn đánh bại đội quân Ba Tư khổng lồ và tiến vào trung tâm đất nước này. Họ tiến rất gần đến Babylon. Không đồng minh, không chỉ huy, họ hành quân vượt 1000 dặm để tới bờ Hắc Hải và đi thêm 500 dặm dọc bờ biển để tới Byzantium qua những địa hình hiểm trở và biết bao nhiêu trận đánh. Nhưng cuối cùng họ cũng đến nơi. Cuộc hành quân huyền thoại này đã làm cho cả những người trong và ngoài Hy Lạp tin rằng đội hình lính đánh thuê của họ - đội hình bộ binh trang bị nặng nêm chặt với nhau – là bất khả chiến bại. Và còn chứng minh được nhiều hơn thế , rằng nếu bộ binh Hy Lạp được kỵ binh yểm trợ thì không kẻ thù nào trên thế giới có thể đứng vững. Lời tiên đoán này càng có vẻ mơ hồ bao nhiêu thì cuối cùng nó càng chính xác bấy nhiêu.


Câu chuyện về những người lính đánh thuê – nổi tiếng với tên gọi”Đội quân vạn người” – được truyền lại bởi một trong số họ, Xenophon – một người lính thành Athen. Khi Xenophon qua đời, khoảng năm 355 TCN, một thế lực mới đang trỗi dậy trong thế giới cổ đại khởi nguồn từ hào khí của hành trình thần thánh của Đội quân vạn người – thế lực Macedon. Người Macedonia thực ra chính là người Hy Lạp nhưng dân Hy Lạp không bao giờ công nhận điều đó cũng như mãi đến thế kỷ 16 người Scotland mới được coi là người Anh. Đây là di sản của người Macedon (ảnh).


Trở lại thế kỷ thứ 5 TCN, Macedonia vẫn là một xứ mông muội với hệ thống phong kiến tổ chức dưới hình thái bộ lạc, thị tộc. Ngôi vua được truyền theo dòng dõi và nhà vua là đấng tối cao về tôn giáo và quân đội đối với toàn lãnh thổ và dân chúng – ít nhất cũng về mặt hình thức.


Mặc dù cung điện của vua chúa và giới quý tộc Macendon chịu ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp và bị Hy Lạp hóa rất nhiều. Vùng đất này cho đến giữa thế kỷ thứ 4 TCN vẫn là một xứ chậm tiến. Khi quốc vương Philips chinh phục được các lãnh chúa khác bằng cách bắt tòng quân tất cả đàn ông tự do hoặc đưa họ vào quân đội hoàng gia thường trực dưới quyền những tướng tá của chính ông. Philips tiếp thu phương pháp của “đội quân vạn người” xưa kia nhưng có cải tiến. Ông kết hợp đội hình cài nêm với lực lượng bộ binh trang bị nhẹ và quan trọng hơn nữa là kỵ binh được trang bị nặng, đó là điều “đội quân vạn người” không có. Macedonia có thể huy động 1 lực lượng kị binh khổng lồ bởi đất nước họ có những cánh đồng bao la và những tràng đất rộng, là nơi cưỡi ngựa của những thanh niên quý tộc.


Đúng như lời dự đoán 50 năm trước, không một thế lực nào trên thế giới có thể cản bước họ. Philips khởi binh, uy hiếp hoặc chinh phạt hầu như tất cả các thành bang Hy Lạp và ông thành công rực rỡ. Không những vì ông có lực lượng mạnh hơn – chặt chẽ hơn và rất trung thành – mà còn vì nội bộ Hy Lạp khi ấy đang lục đục, thậm chí còn mâu thuẫn nặng nề hơn bình thường. Người Ba Tư đã tốn nhiều công để chia rẽ họ, làm cho họ luôn tranh chấp với nhau thay vì chiến đấu chống đế chế Persian. Philips dễ dàng đánh bại các thành bang Hy Lạp nhưng cách duy nhất để tập hợp họ dưới trướng của mình là phù dụ họ, không phải với tư cách một người Athen hay Corin mà là một người Hy Lạp. Philips biết rõ rằng, vào thời này là người Hy Lạp nghĩa là được tự do – ngược lại với những người nô lệ khốn cùng của đế chế Ba tư. Cuộc chiến Salamis và Platea, được ông nhắc đến như những chiến công chói lọi trước đế chế Ba Tư. Nhưng mục đích tối hậu là để thổi bùng lên ngọn lửa căm thù đối với kẻ xâm lược trong quá khứ - những kẻ ngày nay vẫn chiếm cứ những thành bang phía đông của họ. Trả thù không chỉ để chiếm lại đất đai, của cải từ những thành bang phí đông mà còn tiếp nối những huyền thoại như Hercules – vị anh hùng đã lập nhiều kỳ tích ở phương Đông.


Thực vậy, năm 334 TCN con trai vua Philips, đại đế Alexander đã tràn quân sang châu Á. Ông đã đi một vòng thăm thành cổ Troy và tuyên bố với dân chúng rằng chính ông ta – thần Asin tái sinh – đang chuẩn bị thanh toán mối thù truyền kiếp giữa Hy lạp và châu Á. Do đó, từ đầu thế kỷ thứ 4 TCN, một nguyện vọng dấy lên trong lòng những người dân Hy Lạp về một cuộc chiến báo thù dội lên đầu người Ba Tư – một cuộc chiến sẽ khiến mọi tranh chấp nội bộ lắng xuống để hướng toàn bộ lực lượng và sức mạnh ra ngoài lãnh thổ quê hương. Cuộc chiến này cũng mở ra chân trời mới cho giao thương và thuộc địa hóa. Từ trước, Hy Lạp vấp phải một trở ngại ở phía Tây bởi thành bang Carthage hùng mạnh. Và họ gặp phải sự chống cự của người dân địa phương đối với việc họ biến Ý thành thuộc địa. Trên thực tế, hệ thống thuộc địa của Hy Lạp không còn được mở rộng từ thế kỷ thứ 7 -6 TCN. Trong khi họ rất cần mở rộng nó. Chiến tranh liên miên đã tiêu tốn rất nhiều của cải và tàn phá nền nông nghiệp khiến không đủ thóc gạo để nuôi dưỡng dân chúng. Vì vậy, Hy Lạp gửi một phần dân số dư thừa như thợ thủ công, thợ rèn, những người trẻ tuổi thích phiêu lưu, nghệ nhân, học giả, kỹ sư và nhà buôn – nhưng họ không thể thành lập thêm thành bang mới và vấn đề dư thừa dân số vẫn là một bài toán mà lời giải duy nhất là chiến tranh. Người Macedonia kêu gọi cứ binh đánh Ba Tư, nhưng không phải luôn luôn có hiệu quả bởi vì rất nhiều người Hy Lạp ghét người Macedonia không kém gì người Pesia, những kẻ ở rất xa và chẳng có gì giống họ và người Macedonia. 

Tuy nhiên với tư cách là vương giả thống lĩnh trong thế giới Hy Lạp, cha con Philips và Alexander dù không thể khiến một vài thành bang biến thành đồng minh của họ thì ít nhất cũng giữ được họ ở thế trung lập. Người Macedonia cũng cố gắng hăm dọa lính đánh thuê người Hy Lạp – những người luôn bán mình cho kẻ trả giá cao nhất – điều này rất nguy hiểm vì Hoàng đế vĩ đại của đế chế Ba Tư có nhiều tiền hơn Philips và Alexander rất nhiều. Nhưng rất nhanh chóng, quân đội đánh thuê nhận được 1 thông điệp khi họ bị tuyên bố là phản bội lại quyền lợi quốc gia – quyền lợi của Hy Lạp – rồi bị xử tử hoặc bị đày đi những khu mỏ như nô lệ và chịu đựng cuộc sống tồi tệ hơn cả cái chết. Và như thế, cuộc chiến toàn dân chống lại đế chế Ba Tư ở châu Á trở thành 1 kế hoạch vĩ đại. Mặc dù vua Philips bị ám sát vào năm 336 TCN, trước khi ông kịp phát động cuộc chiến. Alexander, con trai ông tỏ ra rất xứng đáng với sứ mạng đó.


Alexander lên ngôi vua lúc vừa tròn 20 tuổi, ông là học trò của Aristotle, đã đọc câu chuyện của Xenophon và ông biết rõ mình có thể làm được những gì và đạt được những gì ở châu Á. Năm 334 TCN, ông dẫn đầu liên minh Hy Lạp – Macedonia vượt qua eo Hellenspont tiến vào Tiểu Á. Sau đó ông lật đổ vương triều Ba Tư, cả vùng đất rộng lớn kéo dài từ Lybia đến Afganistan giờ nằm trong tay ông. Ông lập nên đế chế Hy Lạp – Macedonia, đưa con người và văn hóa Hy Lạp tỏa đi khắp các xứ sở phương Đông. Tất cả chỉ vỏn vẹn trong 11 năm. Sau đó ông mất vị bệnh sốt rét ở Babylon, lúc 32 hoặc 33 tuổi.


Alexander thực sự là 1 trong những vị thống soái vĩ đại nhất của loài người và ông cũng muốn được coi là vĩ đại. thời gian đã xóa mờ mặt tàn độc của ông ta, nhưng cần nhớ rằng ngay cả Cassander, một vị tướng tàn ác của Macedonia – người biết Alexander từ lúc còn trẻ cũng phải rùng mình khi đi ngang qua tượng của ông. Bởi vì kế hoạch của Alexander nghe có vẻ như vô phương thực hiện nên ngoại trừ những người quen biết ông ra thì những người còn lại đều nghĩ ông không phải là 1 anh hùng mà còn hơn thế, ông là một vị thần. Rất nhanh chóng, Alexander quyết định mình nên được coi là 1 vị thần. Điều đó khá hợp lý bởi vì trong truyền thống châu Á, một vị vua phải được thần thánh hóa để duy trì quyền lực.


Một trong những di dản quý giá nhất mà Alexander để lại cho loài người là tham vọng được trở thành bất tử cùng với những nghi lễ thờ phụng vây quanh ông. Dần dà, nó hấp dẫn được cả vị quốc vương tham vọng và tàn nhẫn. Kỳ tích của ông là ước mơ vươn tới của biết bao nhiêu thiên tài về sau này, những người như Ceasar, như Napoleon…Một dị biệt khác của người đàn ông này là ông ta thường cư xử như một nhà vua hiền triết – giống như miêu tả của Plato mà có lẽ ông ta học được từ người thầy Aristotle. Alexander đảm bảo rằng các triết gia và nhà khoa học là phần không thể thiếu trong các cuộc chinh phục của mình. Họ được mang theo để quan sát và ghi chép lại tất cả và ông tìm kiếm sự vĩnh cửu ở bất cứ việc gì ông làm. Ông thiêu rụi cung điện Ba Tư ở Persepolis để trả thù hoàng đế Ba Tư đã đốt thành Athen 150 năm trước. Sau đó ông tổ chức những đám cưới tập thể khổng lồ giữa những thiếu nữ Ba Tư và  các tướng lĩnh Hy Lạp – biểu tượng của mối bang giao mà ông muốn gây dựng giữa Hy Lạp và các dân tộc khác với mục đích lập nên một đế chế vĩ đại vĩnh viễn trường tồn. Nhưng giấc mơ của Alexander không thể trở thành hiện thực. Các xứ sở mà ông tập hợp khác xa nhau và khi ông mất, chúng lại bị chia tách. Những đế chế và văn hóa mới này đều không phải thuần Hy Lạp hay châu Á mà là cả hai. Bởi vậy chúng không được miêu tả bằng từ Hellenic – nghĩa là thuần Hy Lạp – mà chỉ được miêu tả là Hellenistic (có đặc điểm Hy Lạp).


Giai đoạn sau đó được đặt tên là Thời Đại Hy Lạp Hóa kéo dài suốt 300 năm đầy biến động bắt đầu từ cái chết của Alexander năm 323 TCN đến cái chết của Cleopattra năm 30 TCN, hậu duệ của một trong những tùy tướng của Alexander. Đó là 1 thời kỳ sôi nổi như thời đại của chúng ta ngày nay. Quyền lực được chuyển giao từ chính thể đại diện sang một chế độ độc tài; cũng là sự chia tách về tâm lý và thẩm mỹ; cũng là sự nổi lên của xu hướng phản duy lý; cũng là thái độ chỉ quan tâm tới bản thân mình; cũng là sự đam mê đến bệnh hoạn đối với của cải và tôn giáo ngoại lai; cũng là những sở thích kỳ dị, chiêm tinh, ma thuật và dục vọng; cũng là sự thích thú với những thứ đồ sộ xa rời quê hương với 1 cảm giác không mấy dễ chịu “cả thế giới chỉ là một thành bang lớn”; cũng là mâu thuẫn giai cấp và chủ nghĩa thực dân; cũng là chiến tranh, giải phóng dân tộc để đánh đuổi kẻ xâm lược và để các lực lượng địa phương thanh toán lẫn nhau; cũng cái thói quan cách hách dịch lo áp đặt ách đô hộ hơn là lo cải tiến cách làm ăn; cũng là sự phủi tay khỏi chính trị; cũng là sự sa sút của phẩm chất con người ở những siêu đô thị, thành phố mà ngày nay vẫn tồn tại ở Hy Lạp – thành Arcadia. Vậy hãy xem xét kỹ hơn thời đại giống chúng ta một cách kỳ lạ này.


Những đất nước mà các tùy tướng của Alexander lập ra trong Thời Đại Hy Lạp Hóa như nước Ai Cập của Ptolemy hay nước Babylon của Seleucus. Những nước này từ trước đều theo chế độ quân chủ mang mô hình quan lại và đã qua nhiều lần điều chỉnh nhưng những thành phố, những triều đình hoàng gia, quân đội và những trọng thần cao nhất hầu hết đều là người Hy Lạp với những giá trị đồng nhất của người Hy Lạp. Mặc dù người Hy Lạp và Macedonia đã kết hôn với người bản xứ và rất nhiều dân bản xứ cũng được đồng hóa nhưng sự hòa nhập không có gì là chặt chẽ. Có một khoảng cách quá xa giữa những con người đô thị tương đối văn minh, tương đối tự do, hiểu biết và nói tiếng Hy Lạp sống ở đô thị với những nông dân, nô lệ ở những xứ sở rộng lớn nơi vua chúa có quyền sinh quyền sát với họ. Người Hy Lạp miễn cưỡng chấp nhận triều đình độc tài được nhân dân thần phục kiểu phương Đông này nhưng họ cũng không lầm tưởng rằng họ là thần thánh hoặc không bao giờ sai lầm. Ngược lại, những người Hy Lạp vẫn duy trì pháp luật và chính thể của họ, vốn là sản phẩm của lý trí  chứ không phải là sự soi rọi thần bí nào. Vậy nên văn hóa không thực sự được hòa trộn trong Thời Đại Hy Lạp Hóa. Hình ảnh: Syria và Macedonia đang quan sát nhau – hai nền văn hóa cùng tồn tại, vừa nghi kị mặc dù sống cạnh nhau. Một trong các phương thức xem xét sự đô hộ của người Hy Lạp – Macedonia trong thời đại này là so sánh họ với những khu định cư của người Anh khi họ đặt chân lên Ấn Độ thế kỷ thứ 19, 20. 

Trong cả hai trường hợp, kẻ thống trị xa xứ giữa một biển dân bản địa giữ cho cờ của họ luôn bay trên nóc các hội quán, doanh trại giữ các quy tắc xã hội riêng của họ với mục đích không phải để đồng hóa mà để tách biệt và phân cấp. Sự phân rẽ như vậy khiến cho sự hợp nhất không những không thể nảy nở mà còn khiến nó bị ghét bỏ từ cả 2 phía. Nhưng nó cũng mang đến cho người bản xứ những mô phạm khác lạ tương tự như người Anh mang luật pháp, mô hình xã hội, ngôn ngữ Anh và cả môn thể thao cricket tới Ấn Độ, được người Ấn Độ tiếp nhận và thích nghi cả bên ngoài khu vực mà nước Anh kiểm soát. Sống tách biệt trong thế giới xa lạ, những người Hy Lạp và Macedonia trong thời đại Hy Lạp Hóa trở thành sứ giả mang nền văn hóa, chế độ xã hội, tư tưởng, phong cách và ngôn ngữ đến tận như nơi xa xôi như Afganistan và Ấn Độ. 

Hãy xem một ví dụ với những gì còn sót lại của một thành phố Hy Lạp cổ ở biên giới phía bắc Afganistan, vùng Ai Khanoum. Chúng ta biết rằng người lập nên thành phố này có lẽ đến từ Thessaly, miền trung Hy Lạp. Và qua các bút tích trên cột trụ chúng ta cũng biết rằng một người Hy Lạp khác, có thể là một triết gia đã vượt qua một chặng đường rất dài để tới đây. Có lẽ ông biết trước rằng tại đây ông sẽ tìm thấy những người thích nghe ông giảng bài. Khu di chỉ này mới được phát hiện 20 năm trước. Nó đặc biệt ở chỗ có cả một đấu trường cho thanh niên luyện tập và thảo luận – đây là văn hóa và cách huấn luyện rất riêng của người Hy Lạp. Ở đây còn có cả một cơ quan quản lý trong đó có một thư viện. Một mẩu tài liệu bằng giấy papyrus được tìm thấy trong khu vực thư viện và nó được viết bằng tiếng Hy Lạp. và có một ngôi đền trong thành và khu dân cư với mặt sàn khảm. Tất cả những thứ đó đều là điển hình của một thành cổ Hy Lạp. Những mô phạm và phong tục của người Hy Lạp đều rất sống động ở đây, nơi tận cùng thế giới cho đến khi thành phố này bí phá hủy vào cuối thế kỷ thứ 2 TCN bởi một bộ tộc di cư từ thảo nguyên xuống. Đó là cách người Hy Lạp mở rộng nền văn hóa thị dân của họ ra toàn thế giới, một thế giới ngày một rộng lớn hơn, ngày một thống nhất hơn bất cứ thứ gì trước đây.


Khi cuộc chinh phục của Alexander Đại Đế kết thúc, thế giới của người Hy Lạp được mở rộng gấp 4 lần trước kia, điều đó là sự thúc đẩy thần kỳ đối với các hoạt động du lịch và thương mại. Phần lớn những thương mại quốc tế được thực hiện bởi những đoàn thương nhân chở hàng hóa trên lưng những đoàn gia súc, vượt qua những chặng đường gian truân. Nhưng các triều vua Persia cũng xây dựng được nhiều đoạn đường đưa thư rất hoành tráng dài tổng cộng 1500 dặm từ thành Sardis bên bờ biển đến kinh đô của họ ở Susa. Dọc đường có rất nhiều trạm thay ngựa, nhà trọ và các pháo đài. 

Trong suốt Thời đại Hy Lạp Hóa, các con đường phục vụ chủ yếu cho tướng tá và quân lính nhưng họ cũng góp phần chuyên chở hàng hóa nếu không thể dùng đường thủy. Nhưng tất nhiên là chở hàng hóa bằng đường thủy dễ hơn nhiều. Và các hoạt động buôn bán trở nên cực ký phát đạt bởi vì của cải của những kẻ thống trị và các thành bang ngày càng phụ thuộc nhiều vào buôn bán với các vùng miền khác. Trên thực tế, những kẻ thống trị trong thế giới Hy Lạp hóa chính là những ông vua – nhà buôn thực thụ. Họ thực hiện cả những chuyến du hành – buôn bán sang tận châu Phi, Ả Rập và Ấn Độ để mua voi, trầm hương, gia vị và nô lệ. Trọng tải của những chiếc tàu buôn cũng ngày càng tăng. Và dân vùng Syracus, thuộc đảo Sicily còn đóng cả chiếc tàu với sức chứa tới 4500 tấn. Lượng tiền lưu thông cũng ngày càng lớn.


Trong thời gian này, thổ ngữ Hy Lạp được gọi là Koine trở thành ngôn ngữ chung cho nhân dân từ eo biển Gibralta tới biển Caspian. Điều này khiến thương mại dễ dàng hơn nhiều và văn hóa Hy Lạp cũng được truyền bá rộng rãi hơn. Một tri thức Hy Lạp có thể sống tại Alexandria (Ai Cập) hoặc Syracuse ( đảo Sicily) mà cảm thấy thoải mái như ở nhà. Những kép hát toàn xứ liên lạc với nhau và họ có chi hội ở tất cả các thành bang lớn như phường hội của những nghệ nhân nấu rượu. Các vận động viên cũng có đoàn thể của họ kiểu như liên đoàn đấm box quốc tế. Hoặc nếu bạn muốn thờ cúng một vị thần như Isis, bạn có thể đến các nhà thờ, chúng nằm rải rác khắp nơi.


Và cứ như thế, 200 năm trước khi chúa Jesus ra đời – tư tưởng, kiểu cách, hàng hóa đã được lưu thông cực kỳ thuận lợi. Nhưng trớ trêu thay, đó lại là thời kỳ suy tàn của những thành bang cổ Hy Lạp – sau mấy trăm năm được sùng kính. Sự suy tàn này tạo điều kiện để các vùng khác nổi lên. Nó làm cho người ta có quan niệm mở hơn với thế giới bên ngoài Hy Lạp và bắt đầu thời đại của một thế giới thống nhất hơn kể cả con người – cũng đoàn kết với nhau hơn. Sự suy tàn của các thành bang Hy Lạp cũng làm suy yếu các nguyên tắc cũ – về mặt kỷ luật, về tính khắc khổ hay chí ít ở một mức độ thiếu cá tính người. Quan hệ giữa các thành bang xấu đi, và các nguyên tắc không còn nghiêm ngặt nữa tạo điều kiện cho một tinh thần chiết trung mới phát triển. Đó là dấu hiệu riêng của thời đại Hy Lạp. Chúng ta sẽ xem điều này thay đổi cách mà người xưa nhìn nhận thế giới bấy giờ và cách chúng ta nhìn nhận thế giới ra sao trong phần tiếp sau.     

DDTphiên tả và chuyển thể - 5.2011

Tham khảo: TTVMPT 06 - Tư Tưởng Hy Lạp (Greek Thought)

Không phải trong thời chiến hay trong thời đại suy tàn nhưng tư tưởng mà họ để lại cho chúng ta, những câu hỏi về mọi thứ, thậm chí cả các thánh thần khiến tên tuổi của họ không bao giờ bị lãng quên.




Chúng ta đã nhắc tới khái niệm Sophia, tức là sự thông thái – thứ vô cùng quan trọng với người Hy Lạp cổ đại. Họ đã đi đến kết luận rằng: Người đàn ông thông minh nhất là người mạnh nhất và kiến thức của anh ta có thể được truyền cho người nghèo nhất thậm chí cùng khó nhất trong số họ. Dĩ nhiên, vào thời điểm đó đôi khi thật khó hiểu là tại sao người HL lại tranh cãi nhiều như thế. Về vấn đề này, trên thực tế thì triết học hiện đại nói chung cho rằng tư tưởng HL có trừu tượng và tách biệt với thế giới thực. Nhưng những người HL đã phải tích lũy trí thông minh từng chút một và họ thấy việc chinh phục kiến thức cũng thú vị như làm chủ kiến thức vậy. Nhất là nó giúp cho họ nhận thức chính xác hơn về thế giới họ đang sống.   

Do vậy, họ để lại cho chúng ta thành quả lao động quý giá và những quan niệm của họ về tự nhiên, hiện thực hay Chúa Trời có ảnh hưởng sâu sắc tới chúng ta đến nỗi chúng ta coi những quan niệm ấy là đương nhiên đúng. Nhưng ở HL cổ đại, nó hoàn toàn mới mẻ. 
Khi TK V TCN kết thúc, một nhóm triết gia gọi là các nhà thông thái xuất hiện. Từ Sophist có nghĩa là những người tạo ra kiến thức hoặc có thể là người nào dùng kiến thức để kiếm sống. Và những nhà giảng dạy tự do này đi khắp đất nước kiếm sống nhờ trao đổi trí thông minh. Một số là giáo viên tốt, một số thì không. Phần lớn trí thông minh của họ là để dạy cách nhanh chóng thắng trong 1 cuộc tranh luận. 

Do vậy, học sinh của họ có thể thắng trong phiên tòa hoặc ghi điểm trong 1 cuộc tranh cử. Nhiều nhà thông thái bị ghét bỏ vì quá thông minh hay có ý bất mãn, nổi loạn vì họ luôn trong tư thế sẵn sàng cho cuộc tranh luận cho dù nó dẫn tới đâu chăng nữa. Khi bạn bất chấp tất cả để theo đuổi chân lý, bạn cũng không thể nói trước rằng sự thật là cả xã hội có mong muốn hay không. Ví dụ, nhà thông thái Trasymachus cho rằng những người làm luật và chính quyền tạo ra luật pháp có lợi cho chính họ và không có bình đẳng trừ khi điều ấy có lợi cho những kẻ mạnh. Một nhà thông thái khác, Callicles cho rằng: Những học viện và quy tắc đạo đức không phải được thần thánh tạo ra mà bởi những con người như thế để tiện vận hành xã hội. Ít nhất thì đó là tuyên bố của Plato, Callicles và những nhà thông thái khác nghĩ vậy. 

Plato là một người Athen. Ông sinh vào khoảng 427 TCN. Trong sự nghiệp của ông, ông đã thành lập một ngôi trường được gọi là Viện Hàn Lâm – nơi trở thành trường đại học thực sự đầu tiên của loài người. Đây là tranh khảm Roman về một trong số những buổi lên lớp của Plato. Nhưng Plato nổi tiếng nhất với một loạt tác phẩm đối thoại, trong đó những vấn đề triết học được thảo luận. Bởi Plato có tư duy bảo thủ nên đôi khi ông làm các hà thông thái bất mãn với chính phủ hơn cả trước khi họ đàm đạo với ông. Ông đặc biệt bối rối với ý kiến cho rằng con người là thước đo cho mọi thứ và con người không thể nào biết được thần thánh có thực sự tồn tại hay không. Nhưng những người bảo thủ như Plato và chính ông luôn muốn phá bỏ những tư tưởng cũ đơn giản bằng cách dạy họ rằng con người cần sử dụng trí tuệ của mình và đưa ra kết luận dựa trên quan sát và suy luận. Cuối cùng thì đây là điều mà thầy ông – Socrates đã dạy. 

Socrates – người mà Plato yêu quý chắc hẳn là nhà thông thái nổi tiếng nhất, dù bản thân ông không muốn nhận danh tiếng đó và ông cũng không nhận tiền công cho việc dạy học như các nhà thông thái khác. Socrates thích tranh luận với những đồng môn Athen và làm cho họ nhận ra những quan niệm cũ của họ là sai lầm. Socrates thích thắc mắc về những thứ mà người bình thường luôn cho là lẽ tất nhiên hoặc là cứ để đó mà không cần trả lời. Trên hết ông thắc mắc về một số vị thần mà đồng bào của ông đều tin tưởng. 

Nghệ thuật Hy Lạp được phủ đầy hình ảnh của những vị thần – những người cũng bắt cóc, dối trá, trộm cắp, lừa đảo và đánh giết bất chấp công lý và cả những kẻ gian dâm. Nếu những điều này là tính xấu của con người, làm sao nó lại tốt với một vị thần? Do vậy, Socrates nói rằng tốt hơn hết là hãy lắng nghe lương tâm của mình, lắng nghe tiếng nói bên trong mách bảo bạn đâu là lẽ phải. Và nếu bạn không biết, hãy tự hỏi bản thân và những người khác nữa cho tới khi tìm ra. Giờ đây, lối suy nghĩ tự do này thực sự làm các nhà thông thái Athen bối rối, bởi thành phố của họ đang có biến động: Athens đang có chiến tranh và họ đang thua. 

Vào giữa tk V TCN, Athens đã trở thành một đế chế. Các thành bang của nó rải rác xunh quang biển Aegean và sự mở rộng này đã dẫn nó tới một loạt cuộc chiến. Đỉnh điểm là cuộc chiến Peloponnesian giữa Athens và vùng Peloponnesus ở phía Nam. Năm 431 TCN, Athens bị tấn công bởi thành bang láng giềng Sparta và đi đến kết thúc hòa. Thay vì dừng ở đó, họ theo đuổi 1 cuộc chiến táo bạo ở Sicily để mở rộng lãnh thổ và bị đánh bại thảm khốc năm 431 TCN và mất khoảng 200 tàu chiến, 4500 lính. Thương vong của dân thường và các thành bang đồng minh thì gấp 10 lần như thế. Và cuộc chiến vẫn kéo dài cho tới thập kỷ kế tiếp. 

Đây là cách mà nhà sử học Thucydides – người đã tham gia cuộc chiến mô tả lại: “Cuộc chiến Peloponnesian là một cuộc chiến dài lê thê và thêm vào đó là những thảm họa mà người Hy Lạp chưa từng biết đến. Trong các giai đoạn tương tự trong lịch sử, chưa bao giờ nhiều thành phố bị chiếm giữ và tàn phá như thế. Một số bởi những kẻ man di, số khác do chính những người HL chiến đấu chống lại những người HL khác. Và nhiều thành trong số đó bị lấp đầy bởi những kẻ ngoại bang sau khi bị chúng chiếm giữ. Không khi nào mà chết chóc, đầy ải lại trở nên phổ biến như thế  kể cả khi có giao tranh hay nội chiến”. 

Cuộc chiến vô tận và đẫm máu gây ra những cuộc nổi loạn trên khắp đế chế Athen cho tới khi Athens bị đánh bại năm 404 TCN. Vào năm đó, Athens bị ép đầu hàng không điều kiện trước Sparta và những bức tường thành Athens sụp đổ như biểu tượng của sự thất bại hoàn toàn. Và chính lúc đó, dưới vực thẳm tuyệt vọng thì “ông già quỷ quyệt” Socrates vẫn bảo người Athens đặt câu hỏi với mọi thứ. Vào lúc mà tất cả những gì họ muốn làm là làm lành các vết thương chứ không phải xát muối lên nó. Và sau hàng thập lỉ không được tha thứ và bị coi như kẻ phiền toái lập dị, năm 399 TCN, Socrates bị đưa ra xét xử về tội phản nghịch và làm hỏng giới trẻ. Nhưng thực ra, là vì tội hỏi quá nhiều câu hỏi khó chịu trong lúc xã hội biến động. Đó là cách con người thế kỷ 18 giải thích cái chết của Socrates. Bị kết án bởi một cuộc bỏ phiếu kín, thể theo đúng mong muốn của ông, Socrates bị xử đi đày nhưng lại thích cái chết bằng thuốc độc hơn như một người tự nguyện chết để được tự do đặt câu hỏi. 

300 năm sau cái chết của Socrates, Cicero – triết gia kiêm chính khách Roman nói rằng Socrates đã mang triết học từ thiên đường xuống. Nhưng bởi vì giật nó ra từ tay các thánh thần và mang nó xuống hạ giới nên Socrates đã góp phần mang khủng hoảng tới với tôn giáo HL nhanh hơn. Chúng ta có thể định nghĩa đại khái khủng hoảng là sự ngờ vực nền tôn giáo toàn dân. Mỗi thành bang có vị thần riêng và có luật riêng, tôn kính vị thần và tuân thủ luật của thành bang mình là một phần nghĩa vụ của mỗi thành viên trong nền chính trị. Nhưng cả thần thánh hay luật pháp thì đều không nói nhiều về đạo đức hay công lý thực sự, bỏ ngỏ câu hỏi về tâm hồn hay điều xảy ra với tâm hồn sau khi chết. Đó là vấn đề mà Socrates và các nhà thông thái khác đã quan tâm nhiều nhất. Trách nhiệm đầu tiên của anh là phải tuân theo luật pháp hay theo lương tâm của chính mình? Nếu bổn phận chung và riêng xung đột, anh nên làm gì? Cá nhân và tập thể, cái nào quan trọng hơn? Không một câu hỏi nào trong số này là dễ trả lời. Điều lạ là những câu hỏi này đã không có thì thôi, một khi bạn bắt đầu đặt câu hỏi sẽ rất khó để dừng lại. 

Có thể bạn sẽ kết thúc bằng việc nghi ngờ chính thần thánh. Ví dụ, các nhà thông thái lý luận rằng những vị thần truyền thống như Athena có mối liên hệ không thể tách rời khỏi thành phố và việc sự tôn thờ của họ có liên hệ với luật của thành bang. Vì thế, các vị thần ở các thành phố khác nhau phải khác nhau. Bởi mỗi thành phố đều có bộ luật riêng; điều mà có nghĩa là những vị thần như Poseidon chỉ có tầm quan trọng tương đối chứ không tuyệt đối. Vậy thế nào là vị thần có quyền lực tương đối? Như triết gia Xenophanes nói: “Con người tin rằng thần thánh cũng được sinh ra. Họ cũng có giọng nói, thân thể và áo quần như con người. Nhưng nếu bò hay ngựa hay sư tử mà có tay và có thể vẽ tranh bằng tay như con người thì chúng sẽ vẽ vị chúa của chúng với hình hài như chúng. Ngựa sẽ mô tả họ giống ngựa, bò sẽ giống bò. Vị thần của người Ethiopians có mũi hếch và tóc đen; thần của người Thracians lại có mắt xám và tóc đỏ.” Hơn nữa, chỉ cần bạn nhìn ra ngoài phố sẽ thấy rằng người xấu thì giàu có và người tốt đôi khi phải chịu bất công. 

Do vậy, mọi thứ chỉ là sự ngẫu nhiên và chẳng có thánh thần nào cả. Hoặc là các vị thần đó đều bẩn thỉu, ngu ngốc và bất chính với chút ít khả năng hài hước. Mọi người HL đều biết rằng các vị thần đặc biệt thích thử nghiệm trên những nạn nân vô tội như Oedipus – bị bỏ rơi ngay sau lúc sinh, bị các thần sắp đặt giết chính cha mình và sau đó kết hôn với mẹ mình. Làm sao bạn có thể kính trọng những vị thần bất minh như thế? Tất cả những gì bạn có thể là hối lộ họ hoặc ru ngủ cho họ bằng việc hy sinh hay cầu nguyện. Nhưng kể cả thế thì cũng không hiệu quả lắm. Như lời kết luận của một thanh niên trong một tác phẩm đối thoại của Plato “ Dù Chúa có hiện hữu hay không, họ cũng không quan tâm tới con người.” 

Một tập những câu hỏi hóc búa khác về trật tự thế giới cũng cần được giải đáp. Những triết gia về tự nhiên của HL được gọi là những nhà vật lý đã cố gắng lý giải câu đố của tạo hóa từ tk thứ VI TCN. Triết gia Anaximander nói: cá là tổ tiên của loài người, chúng ta có nguồn cội từ nước và đã tiến hóa qua nhiều giai đoạn. Xenophanes, người qua đời năm 475 TCN chú ý tới các hóa thạch và khá thông hiểu nó là cái gì và có cả những nỗ lực khác nhằm phát triển tư duy khoa học để lĩnh hội kiến thức. Hippocrates, người đã lập ra 1 trường y học áp dụng phương pháp mới này để chữa cái gọi là “căn bệnh thần thánh” – thuật ngữ thông thường của chứng động kinh. “Tôi không tin căn bệnh thần thánh này thiêng liêng hay linh diệu hơn những căn bệnh khác. Nhưng ngược lại, nó có những đặc trưng riêng và một nguyên nhân rõ ràng. Ý kiến của tôi là những người đầu tiên gọi nó là căn bệnh thần thánh là những người mà ta gọi là thầy thuốc lang băm – người chữa bệnh bằng cách phù phép, dốt nát hay bịp bợm. Nếu bệnh nhân được chữa khỏi thì danh tiếng và sự uyên bác của họ được tăng lên. Nếu anh ta chết, họ có thể bào chữa bằng việc giải thích là do thần thánh trừng phạt.”

Vào cùng thời điểm đó, những nhà toán học như Thales học tập được môn hình học, số học và thiên văn học từ người Babylonians, Egyptians  và hoàn thiện nó. Họ phát hiện ra rằng ứng dụng của những quy luật hình học có thể giúp xác định vị trí tàu trên biển và các ngôi sao trên trời và giúp chia vạch đồng hồ mặt trời chính xác hơn. Chính Thales đã dự báo nhật thực năm 585 TCN, ông hộ tống nhà vua Croesus xứ Lydia trong vai trò kỹ sư kiêm cố vấn quân đội và ông đã chuyển hướng cả 1 dòng sông. Các kỹ sư ở tk thứ VI tại Samos đã sử dụng hình học để xây dựng đường hầm dài khoảng 1/3 dặm để dẫn nước qua một ngọn núi.

Nhưng cả khi ứng dụng của khoa học mới là rất thiết thực thì vẫn luôn có những cuộc khám phá mới nhằm đạt tới mục đích lớn hơn nữa. Những triết gia HL nghĩ rằng chân lý chung của toán học có thể hé lộ những sự thật bất biến vĩnh cửu ẩn sau những vở kịch thoáng qua của cuộc sống hàng ngày. Họ tin rằng hình học có thể đưa ra một mô hình thiên nhiên không tuổi cũng như một kim tự tháp vậy. Plato cho rằng sự đúng đắn của hình học không phải là những kết luận của lý trí dựa trên thực nghiệm hoặc trên những con số mà con người vẽ hoặc xây dựng mà là những ký ức lý tưởng – những ký ức về đặc trưng của những hình mẫu lý tưởng tồn tại độc lập với thời gian mà lý trí không tài nào hiểu được. 

Và Plato lý giải thêm về thực sự có một thế giới vĩnh hằng của ý tưởng – vật mẫu đầu tiên sinh ra mọi thứ méo mó mà hiện nay chúng ta thấy thoáng qua trên trái đất. Theo lý thuyết này thì chúng ta không hề trải nghiệm thực tiễn mà chỉ nhìn thấy cái bóng rất mờ nhạt của nó, trong cái mà chúng ta gọi là “thế giới thực”. Từ đó lý thuyết này mãi mãi ám ảnh các nhà triết học. 

Cùng thời gian đó, các nhà duy vật cũng đặt câu hỏi về cái gì đằng sau sự sống. Có phải mọi thứ bắt nguồn từ lửa hay nước hay với một nhân tố vật chất nào khác? Thales cho rằng nó khởi nguồn từ nước. Nước qua quá trình tiến hóa thành công đã trở thành những nhân tố khác. Anaximander thì ngược lại, ông cho rằng nó xuất phát từ năng lực tinh thần – trí tuệ hay lý trí đã hành động qua từng vụ việc tạo ra cả sự vận động và trật tự. 

Từ ý tưởng này đã hình thành 1 truyền thống cho rằng đó là “nguyên tác đầu tiên” hay chúng ta có thể gọi là “động lực căn bản” của cuộc sống; truyền thống này coi đó như thần thánh – thực ra là như Chúa Trời – một vị chúa vũ trụ, người không chỉ chịu trách nhiệm tạo ra mọi thứ và trật tự của chúng ở dưới đất hay trên trời mà còn là người bảo vệ tận cùng của sự thật, công lý và vẻ đẹp, lòng nhân ái, sự khoan dung…những thứ mà bạn không thể thấy trên trái đất, kể cả những vị thần trên đỉnh Olympus. 

Cũng không hề có kiểu thần thánh siêu việt đó – vừa trừu tượng, vừa khó hình dung. Và do vậy, Plato cố gắng tạo ra một mẫu khác dễ hiểu hơn. Ông bắt đầu từ quan điểm cho rằng sự thật lý tưởng là hoàn hảo vì nó vừa bất biến vừa thay đổi. Những vật mà ta thấy xung quanh ta về mặt khác đều thấp kém vì chúng luôn thay đổi. Một vật hoàn hảo thì không cần thay đổi chính vì nó đã hoàn hảo. Có một loại vật thể hữu hình mà vẫn không tầm thường đó là những thiên thể. 

Chúng thay đổi nhưng luôn theo cùng một cách. Sự vận động luôn là một hằng số. Với Plato, sự đều đặn và ổn định như thế thực sự rất đặc biệt. Và chắc chắn chúng không diễn ra một cách tình cờ. Cần phải có một linh hồn có tâm trí luôn vận động. Do vậy, Plato kết luận: Phải có một tâm trí thần thánh vận động thiên đường. Và đó là Chúa Trời. 

Vào cùng thời điểm đó, những vị thần của các thành phố như Athena và tôn giáo toàn dân đang suy tàn. Đó là vì chính những thành bang đang suy tàn, trong và sau cuộc chiến Peloponnesian. Họ mất đi quyền tự trị và trở thành một phần của quốc gia lớn hơn sai khiến họ mọi việc. Và khi tôn giáo toàn dân của mỗi thành bang mất quyền nắm giữ, tối thiểu là đối với thành phần thông thái nhất thì tôn giáo của Plato về một vị chúa toàn năng ngày càng có ảnh hưởng. Plato trong tác phẩm Dialoguetimaeus cho rằng tâm hồn của con người cũng gần giống với linh hồn của những ngôi sao. Ông cho rằng chúng ta tới từ những vì sao và khi chết đi chúng ta lại trở lại đó – tới thành phố thiên đường của những vì sao. Đó là 1 ý tưởng vừa tuyệt với vừa liên quan tới nhu cầu trần tục. 

Bởi nếu có một nơi thiên đường như thế, chắc hẳn nó phải là một thành phố - bởi nếu là nông thôn thì những người văn minh sống ở đâu? – Vậy tại sao chúng ta không tạo ra một thành phố y hệt như thế trên trái đất? Tất nhiên sẽ không hoàn hảo bằng nhưng vẫn có cái gì đó cho những người thông thái có giáo dục và cố gắng vươn tới. Và điều này trở thành mẫu cho cái gọi là “tháp ngà” (IVORY TOWER). Mặc dù một cuộc sống phấn đấu, bon chen từng được coi là lý tưởng nhưng bây giờ lý tưởng là trốn tránh vào một cuộc sống suy tư. 

Kết thúc TK thứ IV TCN, Aristotle tiếp bước Plato hướng đến giá trị của lý thuyết và vinh danh một cuộc sống hàn lâm mà các triết gia và các học giả yêu thích – sự trầm tư về những thứ vĩnh hằng. Aristotle mất năm 322 TCN. Lúc sinh thời, vua Philip xứ Macedon và Alexander – con trai đã chấm dứt hoàn toàn quyền tự quyết của các thành bang HL. Thiên đường hạ giới, nơi những nhà thông thái mơ tưởng không còn là mục đích của nhà vua. 

Do vậy, những bậc quân tử Aristotle trốn tránh trong thành phố thiên đường, nơi mà ông tìm thấy sự an ủi và sức mạnh để đưa vận động của tâm hồn tới trạng thái đồng điệu với sự vận động của thiên đường. Và do vậy, những công dân Athens bị vỡ mộng cố gắng trốn tránh tới thành phố của bầu trời. Tôn giáo về thế lực siêu nhiên và vị chúa toàn năng này trở thành 1 phần trong giáo dục HL (Greek Paideia) – công cụ trí tuệ mà mỗi người yêu học hành bắt buộc phải có trong thế giới HL thế kỷ thứ II TCN và sau đó. Thậm chí nó còn tồn tại trong chúng ta tới tận hôm nay, sau hơn 2000 năm lịch sử. 

Trong phần sau chúng ta sẽ có cái nhìn sâu hơn về điều đã xảy ra khi HL bị chinh phục bởi Alexander Đại Đế - một trong những vị tướng kiệt xuất nhất mọi thời đại và một thiên tài hoang tưởng cho tới sau đó.  

DDT phiên tả và chuyển thể - 5.2011   

Tham khảo: TTVMPT 05 - Bình Minh Của Văn Minh Hy Lạp (The Rise of Greek Cilivization)

Những chiến binh, những vận động viên, những nghệ sĩ và những thực dân…Thủy thủ và cướp biển…Nhà buôn và hiền triết…Hy Lạp cổ đại không bao giờ ngưng nghỉ …tạo ra những thử thách mới lạ cho chính mình. Và qua tài năng kiến tạo và phá hủy của họ, chúng ta nhận ra chính mình. 





Văn minh phương Tây thực sự bắt nguồn từ Hy Lạp. Các kiểu thể chế, các kiểu tư duy và cả những kiểu tội phạm đều có sự liên quan đến chủ nghĩa duy lý của tư tưởng Hy Lạp. Những người Hy Lạp không đón nhận thế giới trên sự tin cậy. Họ không tin thế giới là ý chí của Chúa; Họ không bỏ mặc bản thân cho số phận; Thay vào đó, họ đưa ra câu hỏi và tìm kiếm câu trả lời. 

Nhà hiền triết Hy Lạp Plato từng viết rằng Triết Học là đứa con của sự thắc mắc. Nó là món quà họ thu nhặt được khi tìm hiểu những thứ làm họ đặt câu hỏi, những thứ đánh thức sự hiếu kỳ vô độ của họ. Những gì họ thu lượm được không ổn định, không an toàn nhưng thật là vĩ đại.

Hãy bắt đầu với Hy Lạp của 3200 năm trước, vào khoảng 1.200 năm TCN khi mà hàng loạt cuộc xâm lăng và chiến tranh làm rung chuyển thế giới cổ đại. Từ xứ Anatolia tới Ai Cập. Một cảnh trong sử thi Odyssey.

Hầu hết những hiểu biết của chúng ta về 400 năm, giữa năm 1200 và năm 800 TCN  là đều từ sử thi Odyssey và một kiệt tác khác, sử thi Iliad. Cả hai đều được coi là tác phẩm của Homer. Tác phẩm thứ nhất, “Iliad” kể về cách người Hy Lạp đã bao vây và tiêu diệt thành Troy – một thành phố châu Á gần với Hellespont. Tác phẩm thứ hai, “Odyssey” kể về những gì xảy ra với Odyseus, vuya đảo Ithaca và là người đứng đầu Hy Lạp sau cuộc chiến thành Troy. 

Dường như thế giới được miêu tả trong cả 2 bài thơ giống với giai đoạn đương thời giữa năm 1.200 và 800 TCN. Một dạng thời kỳ trung cổ “Đen Tối” vì chúng ta biết quá ít về chúng và bởi vì cuộc sống còn dữ dội và ngắn ngủi hơn thông thường. Chúng ta thấy một xã hội của những chiến binh và những thủ lĩnh tầm thường háo danh và hám lợi, tàn nhẫn, thích đua tranh nhưng có một quy tắc hành xử tạo ra 1 quy tắc lâu đời để sau này hình thành khái niệm chủ nghĩa anh hùng, tính quý tộc và cuối cùng là tinh thần thượng võ.

Cho đến thế kỷ thứ 8 TCN, cuộc tìm kiếm vinh quang đầy quả cảm đã được những người Hy Lạp nghi thức hóa trong những cuộc thi đấu vĩ đại. Chúng ta biết về điều đó nhất qua các cuộc thi đấu được tổ chức ở Olympia vào nằm 776 TCN. Tên cuộc thi trong tiếng Hy Lạp là “Wasagon” nghĩa là “cuộc đấu” hay “thi đấu”. Từ đó chúng ta có từ phái sinh là “Agony” (Đau đớn cực độ). Niềm vinh hạnh mà bạn đạt được lớn đến nỗi cả sự đau đớn tột cùng và thậm chí là mạng sống đều không phải là giá quá cao phải trả để chiến thắng.

Trên phương diện khác, những vận động viên Hy Lạp lại rất thực tế  và cũng rất “duy vật”. Các vận động viên đối diện với sự đau đớn trong các cuộc thi bởi vì họ muốn giành giải thưởng. Người chiến thắng sẽ được cung cấp đồ ăn, cái mặc và có thể được cấp nhà ở thành phố cho suốt phần đời còn lại và anh ta không phải nộp thuế. Trong nhiều thế kỷ sau đó, suy nghĩ của các vận động viên Hy Lạp về các cuộc thi đấu trở nên ngày một thực dụng do ảnh hưởng của những người coi vật chất là vấn đề cốt lõi. Sự hy sinh cao quý là cái mà họ muốn thấy chứ không phải chỉ đơn giản là những tham vọng vật chất tầm thường. Và như vậy hình ảnh về vận động viên – những người chịu đựng để tìm kiếm vinh quang đã trở thành một phần quan trọng của nền văn hóa Hy Lạp – La Mã. Nó được nâng lên một tầm cao mới vào buổi bình minh của Kito giáo – tất nhiên tôn giáo này cũng là một phần của nền văn hóa đó và cũng tham gia vào trận chiến gay go chống lại ma quỷ và tội ác. 

Và sau đó nền văn hóa Hy Lạp – La Mã đã được hồi sinh bởi những tín đồ đạo Tin Lành thế kỷ 16 và những người dưới triều đại Victoria thế kỷ 19. Ngày nay nó vẫn còn hiện hữu trong sự phản đối của những người hiện đại khi họ phát hiện ra trong những anh hùng của họ, phần thương nhân cũng lớn chẳng kém gì phần vận động viên. Giá trị anh hùng mà sử thi Iliad và Odyssey thể hiện được truyền tụng cho tới tận ngày nay, sau gần 3.000 năm. Nhưng điều đó không có nghĩa là những anh hùng của Homer giống như kiểu hiệp sĩ thời trung cổ - những người mù quáng lao vào cuộc chiến vì danh dự. Người anh hùng của Homer có thể cao quý nhưng cũng rất khôn ngoan. Odysseus chọc mù mắt người khổng lồ Cyclops. Odysseus không chỉ là một thủy thủ, một vận động viên tài giỏi, ông còn rất nhanh trí và láu cá – bậc thầy về “đánh lừa và mưu mẹo” như lời nữ thần Athena nhận xét về anh ta trong sự ca tụng hơn là khiển trách. Athena so sánh Odysseus với bản thân rằng: “ Người chắc chắn là số một trong số người trần về tranh luận và diễn thuyết. Còn ta nổi tiếng trong các thần về sự mưu mẹo và gian xảo”. Điều đó không chỉ nói cho bạn về những anh hùng Hy Lạp mà còn về tín ngưỡng Hy Lạp. 

Các vị thần của họ như Pluto và Persephone có thể là siêu phàm nhưng mặt khác họ cũng giống con người, đàn ông và phụ nữ với sinh lý và cảm xúc của con người. Sự nhân cách hóa hình tượng các vị thần là một điều mới mẻ - Một cuộc cách mạng trong tôn giáo. Các vị thần cũng như con người, sinh ra để được thờ phụng với những cung điện như cung điện ở Sicily – nơi họ sống, cất giữ lễ vật và được thờ cúng. Nhưng chỉ có các vị thần được thờ cúng, không phải là các Pharaoh, không phải các vị vua. Không giống như những người Ba Tư, người Hy Lạp không thờ cúng người, chỉ thờ cúng các vị thần. Lúc này, lần đầu tiên: “Con người là thước đo cho mọi vật” – như nhà thông thái Hy Lạp Progoras từng nói vào thế kỷ thứ 5 TCN. 

Đó là một sự khẳng định lớn lao trong một thế giới mà đàn ông và phụ nữ dường như còn rất nhỏ bé và có thể chính họ cũng cảm thấy mình rất nhỏ bé trong vũ trụ cực kỳ to lớn, cực kỳ bí ẩn mà họ gần như không hiểu gì về nó. Và còn nữa, trong cùng thời kỳ này chúng ta tìm hiểu về một chính khách thành Athen, Pericles – ông ca tụng không chỉ con người mà là một con người tự do và sự tiến bộ trong quyền tự do cá nhân. “Chúng ta sống như những công dân tự do, không chỉ trong cuộc sống cộng đồng mà trong cả thái độ đối với mỗi người khác trong những công việc thường ngày”, Pericle nói “ Chúng ta không giận những người hàng xóm nếu anh ta cư xử theo cách anh ta thấy thoải mái. Chúng ta lườm nguýt nếu anh ta không làm gì gây hại, điều đó có thể làm tổn thương”.  Trong số những di tích của Athen vẫn còn lại những công trình kiến trúc từng khiến Pericle coi Athen như trung tâm của nghệ thuật, văn học và kiến trúc vĩ đại. 


Nhưng Athen chỉ là một trong số hàng trăm thành bang của Hy Lạp trong thế kỷ thứ 5 TCN. Mỗi thành bang được gọi là một “Apolis” – nó có nghĩa vừa là “thành phố” vừa là “bang”, cũng có nghĩa là dân quốc, tức là một nhóm người trong một tổ quốc tự trị. Những thành bang này trải dài từ biển Đen tới miền Tây Địa Trung Hải. Vùng tập trung đông dân nhất là phần lục địa của Hy Lạp, trên các hòn đảo ở Ionia. Trên bờ biển phía tây của Tiểu Á – nơi những thành phố sầm uất và hiện đại nhất được dựng lên vào thế kỷ thứ 7 và 6 TCN bởi vì chúng gần nhất với thương mại và văn hóa của vùng Trung Đông. Phạm vi của Poleis (thành bang) nhỏ, một phần vì vị trí địa lý Hy Lạp, Ionia và các hòn đảo nằm giữa thế bàn cờ tạo bởi những núi, thung lũng và các đồng bằng nhỏ thuận lợi cho định cư đơn lẻ, cách tiếp cận dễ dàng nhất là từ biển bao quanh chứ không phải từ đất liền. Vì thế biển trở thành con đường chính của người Hy Lạp. 

Ở trên biển, người Hy lạp đi thuyền, buôn bán, tấn công, cướp bóc. Nhưng những thành bang như là Selinus thì di tích của nó cũng là một thành phố nhỏ bởi người Hy Lạp nghĩ nó nên nhỏ. Plato cho rằng, một thành phố lý tưởng nên có khoảng 5000 công dân – nghĩa là dân số khoảng 20.000 nếu tính cả người ngoại quốc. Phụ nữ, người ngoại quốc và nô lệ tất nhiên đều không có quyền công dân ở Hy Lạp cổ đại. Nhưng ở thời điểm đó, điều này là sự thật hiện hữu ở mọi nơi trên thế giới cho đến tận thế kỷ 19. 

Vì thế nên Hy Lạp có một vài thành bang thuộc loại…và ở thế kỷ thứ 5 TCN chỉ có 3 thành phố có hơn 20.000 công dân, tức là tổng số khoảng 100.000. Athen là thành bang nổi tiếng nhất trong số đó. Nhưng dù tầm vóc của các thành phố như thế nào thì mỗi thành cổ Hy Lạp có phong cách, luật lệ và lòng yêu nước riêng. Và cùng một thời điểm, mỗi thành phố cùng chung 1 niềm tự hào là người con Hy Lạp – một phần của thế giới Hellas, không phải là một đất nước hay một chủng tộc mà là một cộng đồng văn hóa, một ý niệm cực kỳ hùng mạnh. Theo các sử thi của Homer, tất cả cộng đồng Hellas đều có chung tổ tiên – một vị anh hùng có tên Helan hay Helenus – và cùng tham gia vào cuộc chiến thành Troy. Tuy nhiên, về phương diện lịch sử, ý thức của cộng đồng này có thể xuất phát từ ký ức hào hùng của cuộc chiến chống Ba Tư trong khoảng thời gian từ giữa thế kỉ thứ 6 TCN đến đầu thế kỷ thứ 5. Người Hy Lạp đã thách thức và đứng vững trước thế lực vô cùng hùng hậu của đế chế Ba Tư. Họ đánh bại người Ba Tư không chỉ một lần mà nhiều lần. Đặc biệt nhất là ở Marathon vào năm 490 TCN, ở Salamis vào năm 480 và cuối cùng là ở Platanea vào năm kế tiếp. 

Trận Marathon và Platanea là những chiến thắng vĩ đại mà người HL gọi là “Hoplites”- bộ binh có kỷ luật được trang bị vũ khí hạng nặng chiến đấu trong một đội hình khép kín. Những hoplites này trở thành nền tảng cho chiến thắng quân sự của Hy Lạp trong 200 năm sau đó. Nhưng trận Marathon và Plataea cũng là những chiến thắng vĩ đại của tinh thần cộng đồng. Những thành bang Hy Lạp lục đục với nhau phải tạm gác những mâu thuẫn để cùng nhau chống lại người Barbarian – những người không nói tiếng Hy Lạp mà nói tiếng gì đó nghe như “Bar-Bar-Bar”. Như Themistocles, thủ lĩnh người Athen nói sau khi người Hy Lạp xé nát hạm đội Ba Tư thành từng mảnh tại Salamis: “Nếu nói chúng ta đã làm được điều đó thì chúng ta ở đây không chỉ là những người Athen mà là tất cả người HL, tất cả Hellas.” Về sau, những chiến thắng ấy nảy nở một ý thức về HL và về tinh thần HL – cái chưa từng có trước đó. Đó thực sự là một nhân tố quan trọng đưa tới niềm tự hào của người Hy Lạp, và trên thực tế là cả văn minh HL.


Chúng ta có thể nói về VMHL bởi vì dù cho có những chia cắt về địa lý, sự phân tán chính trị và những giao tranh đẫm máu không ngừng thì người HL cùng chung một nền văn hóa đơn nhất – trong ngôn ngữ, trong những thần thoại chung, trong những phong tục giống nhau, trong cùng 1 cá tính văn hóa. Dù cho họ sống ở thành phố nào, họ đều nhanh chóng tiếp thu những kĩ năng và những việc làm mà họ thấy hữu ích sau đó phát triển và biến nó thành của riêng mình. Họ học bảng chữ cái của xứ Phê Ni Xi sau đó thêm những nguyên âm và biến nó thành tiếng Hy Lạp. Họ không phát minh ra nghề gốm, nhưng họ làm nó trở nên đặc biệt. 


Cho đến thế kỷ thứ 6 TCN những người thợ gốm và các nghệ nhân khác đã đánh dấu công việc của họ - như một bước tiến mang tính cách mạng. Điều đó công bố: Mỗi nghệ sĩ là 1 cá nhân riêng lẻ. Họ sao chép bức tượng không giá đỡ của Ai Cập nhưng họ tự do hóa và nhân cách hóa hình dạng của chúng sau đó tô vẽ làm bức tượng sống động hơn. Các nghệ sĩ HL còn sáng tạo ra trường phái khỏa thân như 1 dạng nghệ thuật, thêm 1 sự khẳng định về sự tự tin của con người. Cho đến TK thứ 5 TCN, cá tính văn hóa HL đã tự khẳng định chính mình trong 1 công trình rất đồ sộ - Acropolis, thành trì  quan trọng trên đỉnh đồi của Athen. Vào năm 480 TCN, người Ba Tư đã đốt cháy Athen và mặc dù thành phố nhanh chóng được người Hy Lạp thu hồi và gây dựng lại nhưng nó vẫn như 1 đống lộn xộn trong 30 năm kế tiếp. Cho tới khi Pericle quyết định xây dựng lại Acropolis thì thành phố đã trở thành nơi ngự trị của các thánh thần với ngôi đền mới vĩ đại, đền Parthenon. Bên trong, bức tượng khổng lồ của nữ thần Athena được dựng lên để chứng minh sức mạnh của nữ thần và sức mạnh của người Athen. Tất cả được hoàn thành nhanh chóng chỉ trong 11 năm. Tốc độ đó là một thành tựu kỹ thuật xuất chúng, khiến tất cả người Hy Lạp tự hào không thua gì tầm vóc của bức tượng. Người tạo nên những cột trụ, người chỉ đạo xây dựng điện Parthenon, Phidias – được coi là 1 trong số những nhà điêu khắc vĩ đại nhất thời cổ đại.  

Chúng ta còn giữ được một vài trong những công trình vĩ đại của ông và những công trình của những nhà điêu khắc khác được thực hiện theo phong cách Phidias. Những nhà phê bình, ngày ấy và bây giờ đều ngưỡng mộ vẻ kiềm giữ, quý phái và sự cân đối trong các tác phẩm, điều đã khiến chúng trở thành kiểu mẫu cho phong cách lý tưởng và duy tâm cổ điển. Một nhà điêu khắc khác là Praxiteles, 100 năm sau thời Phidias – giữa thế kỷ thứ 4 TCN đã giải phóng những hình khối cổ điển cứng nhắc thổi vào chúng hơi ấm, điều mà chúng thiếu như chúng ta có thể thấy ở bức tượng Aphrodite of Cnidus này. Những người Hy Lạp đã đi được rất xa so với thời kỳ anh hùng của Homer không chỉ trên con đường nghệ thuật và văn hóa mà còn về chính trị. Tất nhiên từ “politics” cũng là từ phát sinh từ “Polis”.


Cuối thế kỷ thứ 6 TCN, hầu hết các thành bang đã bỏ luật truyền ngôi theo dòng dõi và thử các thể chế chính trị khác nhau. Đó là nền chuyên chế, một dạng của nền chế độ độc tài lập hiến. Nó không hẳn là không phổ biến, đó là chế độ quý tộc – chế độ của những “người tốt nhất” hay những người bẩm sinh là tốt nhất. Đó còn là nền chính trị tập trung, một nhóm nhỏ cai trị toàn xã hội. Và chế độ dân chủ - luật lệ của quần chúng, của số đông. Hoặc những dạng kết hợp của các thể chế chính trị trên như ở Athen thời Pericles. 


Ở Athen, mọi công dân đều có quyền bình đẳng. Nhưng, như Pericles đã viết vào tk thứ 5 TCN : “ Khi mà người đàn ông trở nên đặc biệt ở một khía cạnh nào đó, anh ta được tôn trọng hơn trong cuộc sống cộng đồng, không phải vấn đề về đặc quyền mà là sự công nhận của những giá trị tốt đẹp. Bên cạnh đó, những người có thể cống hiến cho xã hội sẽ không rơi vào sự nghèo khó và thân phận thấp kém. Dĩ nhiên, Pericle không có ý chính xác đến từng từ. 

Chế độ quý tộc không hẳn là luật lệ của những người tốt nhất mà là của số ít người đến từ dòng dõi giàu có lâu đời. Và chế độ dân chủ không hẳn là luật của mọi người mà chỉ là của vài nghìn người sinh ra đã là người tự do. Nhưng một người dân nghèo Athen như Demosthenes vẫn có thể trở thành nhà lãnh đạo chính trị ở thế kỷ thứ 4 TCN. Và từ thành công của ông, chúng ta có thể thấy một điều là: Một ý tưởng có thể định nghĩa những giá trị và khuyến khích những khát vọng và những giá trị, những khát vọng đó lại quay lại ảnh hưởng và thay đổi cả xã hội. Bởi cách người HL chọn người lãnh đạo và cách họ được cai trị có khuynh hướng thay đổi. Mà người HL có cảm nhận về lịch sử, không phải ngẫu nhiên mà nhà sử học cổ đại vĩ đại nhất, Thucydides là người Hy Lạp.  

Lịch sử về đàn ông, phụ nữ, về những thể chế thay đổi theo thời gian và không gian và Thucydides nhìn thấy sự thay đổi xung quanh ông vào TK 5 TCN. Không giống người Ai Cập, những người quá ấn tượng với sự tiếp nối và những triều đại lâu đời; không giống người Mesopotamian, những người quá ấn tượng với những thảm họa siêu nhiên; Thucydides chú ý hơn đến những động cơ thực tế dẫn đến các hành vi của con người. Ông cho rằng những quyết định, hành động và kết quả đến từ những yếu tố khách quan như văn hóa và kinh tế thay vì sự can thiệp của thế lực siêu nhiên. 

Tất nhiên, phần lớn người Hy Lạp đều không khách quan như vậy. Phần lớn họ đều là nông dân hoặc chủ trang trại nhỏ, thợ thủ công…Họ thường bám rễ vào những phong tục mê tín và chủ nghĩa địa phương chật hẹp. Nhưng cuộc xâm lược của người Ba tư vào TK 6 TCN và cuộc đấu tranh toàn quốc chống lại đế chế Ba Tư ở TK 5 đã hình thành 1 ý thức mơ hồ rằng thà hy sinh còn hơn sống đời nô lệ, rằng sẽ thật ý nghĩa khi đối mặt với cái chết không chỉ cho gia đình mình mà cho tất cả mọi gia đình và thậm chí cho gia đình của những người khốn khổ làng bên; (mặc dù điều này nghe có thể vừa lạ lẫm vừa hào hùng); rằng lòng nhân đạo chung, hay tinh thần HL chung giữa họ còn quan trọng hơn là những phong tục và thành kiến địa phương. Có những người còn vĩ đại hơn, quan trọng hơn – những người mà ai ai cũng nhắc tới. Đó là Themistocles, người chỉ huy hạm đội Athen trong trận thắng vĩ đại trước người Ba Tư ở Salamis năm 480 TCN. Chiến thắng này đã cứu cả HL. Một người khác cùng thời với Themistocles, đó là Aristides the Just – người quản lý tài chính của Athen và các thành bang đồng minh một cách trung thực. Miltiades, người hùng của Marathon và Hecataeus of Miletus, người vẽ ra bản đồ thế giới với tất cả các quốc gia, các thành phố và sông ngòi. Và Pythagoras, người thầy thông thái – người khám phá biết bao điều về các con số và về sự đồi bại của thế giới. 

Điều gì làm những con người đó khác biệt với những người nông dân, những người tụ tập ở Agora vào phiên chợ? Đó là Sophia – sự thông thái. Đó là Arete – đức hạnh. Những người nổi tiếng đó không khỏe mạnh hơn, to lớn hơn, hay giàu hơn và có vị thế lớn hơn. Họ chỉ thông thái hơn, và đó là lý do tại sao họ là những người kiệt xuất hơn cả. 

Nhưng nếu điều đó là đúng, chẳng lẽ những người khác không thể trở nên thông thái như họ? Chẳng lẽ một người nông dân không thể học được sao? Có rất nhiều người HL nghĩ đó là điều có thể. Và từ lối suy nghĩ đó đã mở ra một hướng nhìn mới với thế giới – điều đã định hình dòng chảy tương lai của nền văn hóa phương Tây. Chúng ta sẽ thấy điều đó trong chương sau.

DDT phiên tả và chuyển thể - 5.2011

Tham khảo: TTVMPT 02 - Ai Cập Cổ Đại (The Ancient Egyptians)



Một miền sa mạc trải dài, những ngôi mộ khổng lồ, một tín ngưỡng tôn sùng sự bất tử và một vị vua có thể đảm bảo cho ánh mặt trời soi sáng mỗi ngày. Đâu là lý do khiến nền văn minh này có thể tồn tại trường kỳ hơn bất cứ nền văn minh nào khác – trong 3000 năm đáng kinh ngạc? 

Tham khảo: TTVMPT 01- Bình minh Lịch sử (The Dawn of History)


Tổ tiên của chúng ta là những người săn bắn và du mục. Luôn cảm thấy sợ hãi và lo lắng về một thế giới mà họ không hiểu. Họ bỏ nhiều công sức vào việc tụng niệm, tế lễ, vào những đền thờ và hầm mộ. Và cùng với tôn giáo, thánh thần và thượng đế thì phù thủy và thầy tu xuất hiện. Theo đó một xã hội phức tạp hơn ra đời.  




Ông Eugen Weber, giảng viên môn lịch sử đại học California, bang Los Angeles sẽ bắt đầu cuộc hành trình của riêng mình xuyên suốt lịch sử của nền văn minh phương Tây. Ông nói rằng ông dùng từ “riêng mình” vì quan điểm của mỗi người về lịch sử chưa chắc đã giống nhau. Quý vị có thể thấy điều đó nhiều lần khi xem 52 tập phim sắp tới. 

Nếu như bạn đang thắc mắc rằng làm thế nào chúng ta có thể “nhồi nhét” hàng nghìn năm lịch sử trong vỏn vẹn có 52 tập phim mà mỗi tập chỉ kéo dài nửa giờ thì hãy nhớ một điều rằng: người Mỹ làm gì cũng nhanh. Chẳng hạn như phần lịch sử thế giới chỉ kéo dài 4 phút. Mục đích là để dẫn dắt bạn vào câu chuyện. Nó là đoạn trích từ bộ phim có tên: “tại sao con người kiến tạo” của nhà đạo diễn sáng tạo Saul Bass:

-         Tiếng nói chuyện
-         Cuộc chiến với thú..
-         Cái đòn bẩy
-         Harry, cậu có biết là cậu đã phát minh ra bánh xe không?
-         Tôi biết mà
-         Tiếng đồng ca
-         Đồ đồng
-         Đồ sắt
-         Mọi thứ trở nên rắc rối
-         Cho tới khi Ơ-clit xuất hiện và đặt ra trật tự
-         Một cuộc sống tốt đẹp nghĩa là gì?
-         Làm thế nào để có một cuộc sống tốt đẹp?
-         Ai sẽ là người thống trị?
-         Ông vua hiền triết.
-         Những nhà quý tộc.
-         Nhân dân
-         Ý anh là tất cả mọi người?
-         Bản chất của sự tốt đẹp là gì?
-         Bản chất của công lý là gì?
-         Hạnh phúc là gì?
-         Mọi người: Hoan hô, Caesar!
-         Bộ luật của người La Mã đang được thảo luận
-         Tiếng thì thầm
-         Ngợi ca thánh A-La
-         Tôi đã phát minh ra số 0.
-         Cái gì?
-         Không có gì? Không có gì?
-         Trái đất có hình gì?
-         Nó dẹt à?
-         Chuyện gì xảy ra nếu tôi đứng bên mép Trái Đất?
-         Tôi sẽ rơi ra ngoài à?
-         Trái Đất có chuyển động không ?
-         Không bao giờ ?
-         Trái đất có chuyển động
-         Trái đất hình tròn
-         Máu chảy thành chu kỳ
-         Có những thế giới nhỏ hơn và lớn hơn thế giới của chúng ta.
-         Này, anh đang làm gì thế ?
-         Tôi đang sơn trần nhà
-         Tôi đang sơn sàn nhà.
-         Xe lửa
-         Máy chạy..
-         Darwin nói rằng con người là một loài động vật
-         Thật vớ vẩn, con người không phải là động vật
-         Là động vật!
-         Không phải!
-         Âm hiệu Morse
-         Tiếng gào thét
-         Ừm ừm...
-         Chúng ta bắt đầu từ vạch xuất phát nhé ?
-         Tôi là một con rệp, một con vi trùng, một con sâu...
-         Louis Pasteur.
-         Tôi không phải là con rệp, con vi trùng.
-         Cái này có hoạt động không nhỉ ?
-         Thử xem
-         Nổ
-         Thử xem
-         Tốt chứ?
-         Nó chạy tốt!
-         Loài người được tạo ra...
-         Cuộc sống, tự do...
-         Những công nhân của thế giới...
-         Chính phủ của dân...
-         ...an toàn cho một nền dân chủ.
-         Một cuộc chiến để kết thúc tất cả chiến tranh…
-         Liên hiệp các quốc gia…
-         Tôi thấy 1/3 dân tộc không nhà cửa, không cơm ăn áo mặc…
-         Một thế giới…
-         Tiếng ho dữ dội
-         Cứu tôi với!!!

Bây giờ anh đã biết đích đến của chúng ta. Mặc dù tôi rất muốn nghĩ nơi đó không nghiệt ngã như thế này. Nhưng chúng ta bắt đầu từ đâu nhỉ? Có lẽ câu hỏi đầu tiên nên là phạm vi của loạt phim này kéo dài tới đâu? Và cách tốt nhất để trả lời là quay lại những xứ sở xưa, trở lại nơi tổ tiên ta đã từng sinh sống để thấy được nơi bắt đầu những câu chuyện, và những kỷ niệm, những thói quen, cách họ sống, điều đã hình thành nên chúng ta ngày nay. Đó là điều mà lịch sử muốn hướng tới: “Chúng ta đến từ đâu?”. Điều gì ẩn sau cách chúng ta sống, hành động và suy nghĩ? Thể chế, tôn giáo và cuộc sống của chúng ta hình thành như thế nào? Đó là những gì mà ông Eugen Weber muốn giải đáp trong loạt phim này.

“Tìm về nguồn cội”

Tôi biết rằng không phải tất cả chúng ta đều đến từ phần bán đảo nhỏ của châu Á mà chúng ta gọi là châu Âu. Nhưng ngôn ngữ, văn hóa và nến chính trị của xã hội mà chúng ta đang sống lại bắt nguồn từ đó. Vì vậy, đây là một hành trình quan trọng để chúng ta khởi đầu càng sớm càng tốt.

Để thực hiện mục đích này, hãy quay lại 60 triệu năm trước. Khi kỉ nguyên của những loài bò sát lớn sắp kết thúc. Vào thời điểm đó loài khủng long thống trị thế giới. Những loài động vật có vú luôn co mình sợ hãi. Chúng không bao giờ có thể thách thức vị thế chúa tể của loài khủng long. Rồi sau đó, Ầm…Một ngôi sao chổi đâm vào Trái Đất. Loài khủng long biến mất. Các loài động vật có vú có cơ hội phát triển. Trong số đó có những loài động vật linh trưởng. Chúng có xu hướng treo mình, đung đưa trên cây. Hơn 5 triệu năm trước, thế hệ con cháu của những loài động vật đó đã tạo ra những dấu chân. Khi đứng thẳng bằng chân sau của mình. Tuy nhiên điều này không có nghĩa chúng có thể đi bằng hai chân sau. Nhưng chúng càng ít ở trên cây bao nhiêu thì các chi trước càng được sử dụng nhiều hơn để cầm nắm. Và chúng càng ít treo mình trên cây bao nhiêu thì ngón tay cái của chúng càng phát triển dài ra. Cho đến khi nó ở vị trí đối diện với các ngón khác tạo thành một cơ cấu thuận tiện cho việc cầm nắm và các thao tác khác.

Vào khoảng 2 triệu năm trước, bàn tay đó lại hóa ra là một thứ kì diệu: Một tạo tác, một công cụ - thứ đã làm thay đổi chính họ. Và đó là khi chúng ta không còn nhắc tới từ “vượn” nữa mà là một cái gì đó có thể được thừa nhận là “con người” với một bộ óc lớn hơn và đi kèm theo đó là những công cụ được chế tác từ đá. Cũng giống như tất cả các loài động vật linh trưởng, những sinh vật này có hình dạng gần giống con người. Được chúng ta xếp vào “họ người”. Không có vuốt sắc như hổ, cũng không có nanh nhọn như sói, nhưng chúng thấy rằng để nắm cầm một thứ gì đó thì dùng tay sẽ tốt hơn hẳn dùng miệng. Chẳng hạn như với đôi bàn tay, chúng có thể lấy được nhân của trái cây. Chúng có thể đặt trái cây đó lên một viên đá, rồi dùng một viên đá khác để đập vỡ nó. Một viên đá cũng có thể dùng để đập vỡ hoặc làm nứt một viên đá khác. Và chỉ có Chúa mới biết đã có bao nhiêu viên đá được vô tình đập vào nhau và bị đẽo dẹt đi. Cho tới khi một trong những sinh vật họ người tình cờ nhìn thấy điều đấy và nhận ra rằng anh ta có thể làm được một cách có chủ ý. Kể từ đó trở đi, những viên đá nguyên sơ đã giải phóng hàm răng của họ khỏi nhiều việc.

Khoảng 2 triệu năm sau đó, con người vốn là loài ăn thực vật chuyển thành động vật ăn thịt. và hàm răng vốn chắc khỏe nhờ việc nhai vỏ cây, cỏ, gốc củ - nay trở nên sắc nhọn. Bộ hàm lực lưỡng chèn ép bộ não suy biến dần. Bộ não từng bị ép vào trong hộp sọ nhỏ hẹp thì nay bắt đầu phát triển. Và thật kỳ diệu khi loài động vật biết tư duy. Bắt đầu là quá trình phát triển não bộ và tiêu biến hàm răng.

Mãi cho tới khoảng năm 7000, trước CN thì con người thời đồ đá mới biết tạo ra lửa bằng cách cọ xát hai vật vào nhau hoặc đánh vào đá lửa. Lửa và tư duy cho phép con người mở rộng nơi cư trú đến những vùng đất mới xa xôi hơn. Vào thời ký mà thậm chí ở ngay những dòng sông băng chảy tới tận vùng nhiệt đới  thì tổ tiên chúng ta buộc phải động não hoặc là chịu chết – Họ đã chọn cách động não. Và nhanh chóng họ nhận ra rằng suy nghĩ không thể ngăn được cái chết. Và đây, lần đầu tiên trong lịch sử. Một sinh vật đã tạo ra một bước tiến lớn lao: Cho phép nó hình dung ra kết cục của chính nó khi chứng kiến kết cục của sinh vật giống mình để hình dung ra cái chết của bản thân từ cái chết của một ai đó tương tự như mình, để cảm thấy mình bé nhỏ, cảm thấy bối rối, hoang mang, sợ sệt trước cái chết. Và để xoay xở với những cái xác, để chịu đựng sự bí ẩn và nỗi sợ hãi mà chúng tạo ra thì con người đã tạo dựng những lễ nghi, truyện thần thoại, tôn giáo mà trong đó con người đã phải tốn rất nhiều sức lực để qua hàng thiên niên kỷ nay, hầu hết một số vật phẩm dư thừa ít ỏi mà con người trồng và tạo ra được thì đều phải đưa vào các đền thờ, lăng mộ như Stonehenge.

Khoảng 1000 năm trước đây, có một thứ mà chúng ta khả dĩ gọi là ngôn ngữ. Một thứ gì đó giống như thế đã phát triển. Một công cụ mới cho phép con người giao tiếp với nhau một cách có ý nghĩa hơn. Và khi bước sang thời kỳ đồ đá mới – giai đoạn mà Stonehenge được xây dựng thì họ đã phát minh ra những phương pháp nguyên thủy nhưng mang tính cách mạng để lưu trữ thông tin bên ngoài khối óc của mình. Bằng cách chạm, khắc, vẽ.  Điều đó có nghĩa giờ đây con người có thể truyền tải thông tin không chỉ bằng lời nói mà còn bằng kí hiệu, chẳng hạn như chữ viết.

Tóm lại, con người nguyên thủy là những người săn bắn, hái lượm và du cư. Họ tập trung thành những thị tộc và di chuyển qua các khu rừng, các thảo nguyên lần theo dấu vết của những loài động vật – thức ăn của học. Hầu hết các bức vẽ chúng ta phát hiện trong các hang động hiển nhiên là các tác phẩm của các nghệ sĩ – thành viên của một tập thể săn bắn.

Khoảng 10 – 12.000 năm trước đây, một số người đã định cư và tiến hành cuộc cách mạng nông nghiệp. Cũng giống như việc phát minh ra lửa, nguồn gốc của cuộc Cách mạng này cũng không rõ ràng. Chỉ biết rằng khi con người biết cách làm cho đất đai sinh ra trái ngọt, biết thuần hóa thú rừng, biết tích lũy những thành quả của sản vật thì khi đó nhận thức của họ về sở hữu cũng phát triển. Và như thế, một xã hội có giai cấp được hình thành với sự xuất hiện của những ngôi làng, của giếng nước, thành quách, nô lệ. Và những gia đình đông con là sự đảm bảo cho nguồn lao động và sự trường tồn của xã hội. Chúng ta nói thì có vẻ dễ dàng nhưng cũng phải hiểu là con người đã phải mất bao lâu để đạt được điều này. Stonehenge được xây dựng khoảng 3.800 năm trước. Công cụ bằng đá xuất hiện trước đây khoảng 2,5 triệu năm. Những sinh vật đứng thẳng đầu tiên có kích thước giống con người xuất hiện cách đây 1.6 triệu năm. Và sau đó 100.000 năm, những viên đá được đẽo gọt đầu tiên mới xuất hiện. Lễ mai táng đầu tiên được tổ chức 70.000 năm trước. Và khoảng 10 ngàn năm trước Công nguyên, bắt đầu thời kỳ đồ đá mới, thời Neolithic- điểm xuất phát của chuyến hành trình của chúng ta. Gia đình và xã hội dưới thời kỳ đồ đá mới phụ thuộc vào khả năng sinh sản và an ninh. Nhưng cả hai khả năng này đều rất mong manh. Ở thời ký này, nền nông nghiệp luôn phải chịu đựng những cuộc chiến tranh, những cuộc tấn công và phản công không có hồi kết để cướp bóc lương thực, gia súc của các bộ tộc láng giềng. Vì vậy, con người luôn sống trong nỗi sợ hãi, sợ nạn cướp bóc, chiến tranh, sợ những quyền năng ma quỷ và sợ thiên nhiên ….Và những lễ nghi nhằm bảo vệ họ khỏi những nguy hiểm, bảo đảm cho công việc săn bắn, trồng trọt và thắng lợi trong các cuộc chiến. Những lễ nghi này là rất cần thiết. Và vì vậy người ta đã phát triển những kĩ thuật thần bí ngày càng phức tạp – hầu hết liên quan đến sự hiến tế của con người. Họ gây dựng vật chất và hạnh phúc trên đống xương người. Rất ít tín ngưỡng không có hiến tế. Chính những tác động đáng sợ về mặt tinh thần của việc hiến tế con người đã củng cố quyền năng của tín ngưỡng tôn giáo trong việc định hình trí tưởng tượng của con người. Khi tôn giáo phát triển tới tiến bộ nhất định thì con người đã được thay thế bằng động vật. Nhưng dạng cừu tế giảm nhẹ này dường như vô dụng vào thời kỳ đồ đá mới. Có một nghịch lý rằng mục đích của mọi việc cúng tế là để giúp củng cố sức mạnh của sự sống mà biểu tượng là những nữ thần đất (vệ nữ). Những nông dân thời ký đồ đá tôn thờ sức mạnh của thiên nhiên – thế lực luôn sinh sôi, chết đi rồi lại tái sinh.

Và trong cuộc đấu tranh để sống sót, chúng ta thấy nguồn gốc của tín ngưỡng, tôn giáo, vương quyền, các thể chế chính trị và những khuôn mẫu xã hội cơ bản khác. Chúng ta không biết điều này xảy ra như thế nào, nhưng có lẽ đã có lần con người nhận ra mối quan hệ giữa tình dục và việc sinh đẻ. Họ đã đặt ra những lễ nghi dựa trên cơ sở của hành vi tình dục, những lễ nghi mà họ hy vọng rằng sẽ mang lại cho họ sức mạnh sinh sôi của thiên nhiên. Trong rất nhiều nghi lễ thời tiền sử, đàn ông tượng trưng cho những hạt giống, vì vậy họ giữ vai trò lãnh đạo. Người Anh cổ gọi họ là Vua Hạt Giống. Ông ta sẽ bị giết và mai táng (thực chất là được gieo hạt) và ông ta sẽ bị thay thế bởi một người kế tục trẻ trung, cường tráng. Và những người chịu nạn dưới nghi thức này được coi như hiện thân của sức mạnh thiên nhiên, được xem như là thánh nam và thánh nữ hoặc cái gì đó tương tự như vậy. Nhưng cuối cùng thì người ta nhận ra rằng họ có thể có được hiệu quả thần bí tương tự qua một vài thủ tục, qua chủ nghĩa tượng trưng. Và khi người ta làm như thế thì Vua Hạt Giống trở thành nhựng vị vua thực sự. Sự chuyển tiếp này càng diễn ra nhanh chóng nếu ông ta là người chỉ huy thị tộc trong các cuộc chiến tranh. Chúng ta không chắc mọi việc có diễn ra đúng như thế không nhưng chúng ta biết rằng những vị vua thực sự của Ai Cập và Mesopotamia đã đảm nhận rất nhiều trách nhiệm mà theo tác giả là Vua Hạt Giống trong tín ngưỡng phồn thực.

Chúng ta có thể cho rằng trong xã hội nguyên thủy, phụ nữ được tôn thờ như những người tạo ra sự sống. Nhưng trong khi khả năng sinh sản của phụ nữ được thừa nhận trong các truyền thuyết và tín ngưỡng thì vị trí của họ trong xã hội nông nghiệp lại ít được tự do và ít được coi trọng hơn so với trong xã hội săn bắn. Và có lẽ do việc phát minh ra một công cụ mới – cái cày trâu đã càng làm sự chênh lệch đó gia tăng. Việc cày đòi hỏi nhiều sức lực nên chủ yếu nó được giao cho nam giới. Phụ nữ phải làm hầu như mọi việc còn lại – các công việc vất vả và không tên. Đàn ông thì mải miết tấn công hoặc phòng ngự trước kẻ thù. Nghề nông và thuật tề gia, tôn giáo và chiến tranh từ đó trở thành những chủ điểm chính trong lịch sử phát triển của con người. Nông nghiệp với thuật tề gia nhằm tạo đủ vật chất để tồn tại và dôi ra một chút. Còn tôn giáo và chiến tranh để gom và tiêu dùng số vật chất đó. Và một lần nữa diễn biến thật sự rất mơ hồ nhưng qua những tàn tích để lại, chúng ta biết rằng xã hội và tôn giáo nguyên thủy rất trọng người già và chúng ta cũng biết những tôn giáo này đều có thầy tu. Nếu như ma thuật cần thiết cho một mùa màng tươi tốt và gia súc khỏe mạnh, nếu như sinh sản, trị bệnh, sự an toàn trước những biến cố được cho là có ích với cả cộng đồng thì cả cộng đồng sau đó sẽ tự nguyện đóng góp, dâng tế cho những người chịu trách nhiệm làm việc đó. Thế là phù thủy và thầy tu trở thành giai cấp đầu tiên xuất hiện, không trực tiếp sản xuất ra lương thực. Cùng lúc đó, một số giai cấp khác cũng xuất hiện, bao gồm: Thợ gốm, thợ mỏ và thợ thủ công – những người làm việc với đồng và kim loại khác. 
Tất cả những điều trên cho thấy hai điều: Thứ nhất: đó là nền kinh tế có dư thừa vật chất, sản phẩm. Thứ hai: Xã hội đang dần trở nên phức tạp.

Người ta không tự cung, tự cấp nữa mà chuyển sang buôn bán. Chuyên môn hóa ngày càng cao, giá trị dôi dư ngày một nhiều. Xuất hiện thị trường, nơi các sản phẩm dôi dư được trao đổi. Và cuối cùng có hẳn những khu dân cư lớn không trực tiếp làm nông nghiệp mà chúng ta gọi là thành phố, thị trấn. Sự phân hóa về kinh tế kéo theo sự phân hóa về mặt xã hội. Xã hội sau đó được phân chia thành các tầng lớp: quí tộc giàu có, người tự do, người lệ thuộc và nô lệ. Người giàu sở hữu phần lớn ruộng đất trở thành địa chủ, thống trị các tầng lớp khác. Trong cộng đồng địa chủ cũng có sự đấu tranh. Bởi vì đã là con người, họ luôn muốn thống trị, bóc lột lẫn nhau. Sau đó, cũng như bây giờ, sự tham lam, thù hằn dường như lũng đoạn – cái mà chúng ta khả dĩ có thể gọi là đời sống chính trị. Vì vậy con người tự nguyện hoặc buộc phải gia nhập thế lực mạnh nhất. Và một chế độ sở hữu đất đai đã phát triển, tồn tại hàng ngàn năm. Nó có vẻ giống như chế độ phong kiến thời trung cổ. Khi mà một người sử dụng ruộng đất của người khác, đổi lại anh ta phải trả tiền hoặc công lao động…Tiến trình này nhìn chung khá phổ biến. Chúng ta có thể thấy nó ở Ấn Độ, Trung Quốc và Cận Đông. Và mãi sau đó mới xuất hiện ở châu Âu dười hình thức tương tự. Nhưng hiện tượng này biểu hiện rõ nhất và sớm nhất ở những nơi mật độ dân cư đông nhất, nơi các cuộc đấu tranh vì ruộng đất diễn ra gay gắt nhất, nơi các tổ chức sản xuất và phòng vệ là quan trọng nhất. Những điều kiện như trên có thể tìm thấy ở nơi mà ngày nay chúng ta gọi là vùng Trăng Lưỡi Liềm Màu Mỡ - thuộc một phần nhỏ của châu Á và châu Phi, trải dài từ Lưỡng Hà và Syria ở phía Đông đến Ai Cập ở phía Tây.   

DDT phiên tả và chuyển thể  - 12.2010